Phạt đến 30 triệu vì chia sẻ tin tức: Bước tiến bảo hộ bản quyền hay bước lùi của báo chí?
Đan Thanh
Vừa rồi đây, một quy định mới có hiệu lực đã tạo nên nỗi bất an bao trùm trong quần chúng: cung cấp, chia sẻ các tác phẩm báo chí lên mạng xã hội có thể bị phạt từ 20-30 triệu đồng.
Trong khi đó, việc nhấn nút chia sẻ hay đăng lại vài dòng trong một bản tin đáng chú ý đã là thói quen lâu nay của rất nhiều người dùng mạng xã hội.
Đi kèm nỗi bất an lan rộng là hàng loạt câu hỏi lớn cần được đặt ra: liệu những bản tin hằng ngày có thuộc diện bảo hộ sở hữu trí tuệ? Quyền tiếp cận thông tin của người dân có đang bị thu hẹp? Và báo chí từ nay có đánh mất dần các vai trò phổ cập thông tin, giám sát xã hội của mình?
Tin tức hằng ngày có thuộc diện bảo hộ sở hữu trí tuệ?
Quy định trên đến từ Nghị định 174/2026 (về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, giao dịch điện tử, công nghệ thông tin) do Chính phủ ban hành ngày 15/5/2026 và có hiệu lực từ ngày 1/7. [1]
“Bảo vệ chất xám”, bảo vệ “sở hữu trí tuệ”, hay hạn chế “trục lợi trên công sức của người khác” là những lý do mà nhà chức trách đưa ra để hợp lý hóa quy định mới. [2]
Thế nhưng, thử xem xét kỹ, liệu những bản tin hằng ngày có nằm trong diện bảo hộ sở hữu trí tuệ hay không? Chính tại đây lại lộ ra sự xung đột nội tại giữa quy định mới với hệ thống văn bản luật hiện hành của Việt Nam.
Có thể cơ quan chức năng vin vào khoản 1 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ để cho rằng tác phẩm báo chí thuộc nhóm được bảo hộ quyền tác giả. [3]
Nhưng đâu chỉ đơn giản thế.
Điều 15 Luật Sở hữu trí tuệ đã quy định “tin tức thời sự thuần túy đưa tin” không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả.
Các bản tin trên báo thường chỉ là một “sự kiện khách quan” – thứ mà luật pháp quy định không một cá nhân hay tòa soạn nào được phép tuyên bố quyền sở hữu. Nếu luật pháp cho phép bảo hộ các sự kiện này, thì tòa soạn đầu tiên đưa tin về một trận động đất sẽ có quyền cấm tất cả các tòa soạn khác đưa tin về vụ động đất đó. Mà như thế thì quyền tiếp cận thông tin của nhân loại sẽ bị thu hẹp rất nhiều.
Tinh thần này cũng được thể hiện trong Công ước Berne về Bảo hộ tác phẩm Văn học và Nghệ thuật. Điều 2(8) của công ước nêu rõ: “công ước không áp dụng bảo hộ đối với tin tức trong ngày hoặc những sự kiện đơn thuần mang tính thông tin báo chí.” [4]
Vậy thì đâu là cơ sở xác định dạng nội dung nào được bảo hộ sở hữu trí tuệ?
Để hiểu điều này, ta cần trở lại với nguyên tắc nền tảng và kinh điển nhất trong pháp luật sở hữu trí tuệ toàn cầu: học thuyết phân tách ý tưởng – cách thể hiện (idea-expression dichotomy). Hiểu nôm na, nguyên tắc này xác định pháp luật sở hữu trí tuệ không bảo hộ một ý tưởng, mà bảo hộ cách biểu đạt của ý tưởng đó.
Theo đó, báo chí chỉ được bảo hộ bản quyền đối với cách viết, cách dùng từ, cấu trúc bài báo, hay cách đặt vấn đề (tức là hình thức thể hiện của bài báo đó) – có thể gọi là “dấu ấn sáng tạo” – thứ làm nên “quyền tác giả.
Nguyên tắc lâu đời này cũng được khẳng định trong Hiệp định về các Khía cạnh liên quan đến Thương mại của Quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS Agreement). Điều 9(2) của hiệp định này ghi rõ: “Bản quyền chỉ áp dụng cho các hình thức diễn đạt chứ không áp dụng cho các ý tưởng, quy trình, phương pháp vận hành hoặc các khái niệm toán học riêng lẻ.” [5]
Chức năng của báo chí có còn nguyên vẹn?
Trước sự xôn xao của dư luận về quy định mới, ông Lê Quang Tự Do, Cục trưởng Cục Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử (Bộ Thông tin và Truyền thông), có chia sẻ với báo Tuổi Trẻ về những trường hợp có thể bị coi là vi phạm bản quyền và bị xử phạt khi chia sẻ bài báo. [6]
Theo đó, ông nói rằng chia sẻ link bài báo thì không vi phạm bản quyền, còn “trường hợp chia sẻ đường link kèm theo một phần hoặc toàn bộ nội dung bài báo mà chưa được sự đồng ý của tòa soạn báo là vi phạm bản quyền. Trong trường hợp cơ quan báo chí không đồng ý cho chia sẻ thì có thể bị xử phạt.”
Câu trả lời của ông, chưa bàn đến chuyện ông có thẩm quyền diễn giải quy định và sự diễn giải đó đúng hay sai, đã đặt ra một nỗi âu lo lớn về vai trò, chức năng của tin tức báo chí khi quy định mới được áp dụng.
Nhắc đến báo chí, không thể không nói đến sứ mệnh và mục tiêu mang thông tin “tiếp cận đại chúng”. Sự tiếp cận ấy, hiển nhiên không thể được gói vào một nhóm người, không thể giới hạn độ tuổi, giới tính hay tầng lớp. Khó có minh chứng nào rõ ràng hơn cho độ “tiếp cận đại chúng” của tin tức báo chí bằng phạm vi lan truyền.
Quy định chỉ được chia sẻ link, không được sao chép dù chỉ một phần nội dung đã vô tình trở thành rào cản bóp nghẹt tính lan truyền của tin tức báo chí. Tạm nói về tác động bóp nghẹt này trên ba phương diện.
Thứ nhất, việc chỉ được chia sẻ link thay vì một trích đoạn, một dòng tiêu đề sẽ khiến công chúng giảm tính tò mò để truy cập tin tức.
Bản chất của mạng xã hội là đọc nhanh, xem lướt. Hành vi của người dùng Internet ngày nay đã thay đổi. Họ rất lười bấm vào các đường link dẫn ra ngoài vì ngại tốn thời gian tải trang hoặc gặp quảng cáo phiền toái. [7] Một đường link trơ trọi không có vài dòng tóm tắt hoặc một đoạn trích hay trong bài làm sao có sức hút để kích thích người ta click vào?
Ngăn cản việc trích dẫn nội dung đồng nghĩa với việc làm giảm tỷ lệ nhấp chuột một cách đáng kể. Tin tức theo đó không thể tiếp cận được số đông, giảm mạnh tính lan truyền.
Thứ hai, điều tai hại nhất là việc áp dụng quy định này là nó có thể giết chết văn hóa tranh luận – thứ kích cầu dòng chảy thông tin.
Tính lan truyền của một bài báo phụ thuộc rất lớn vào việc công chúng tranh luận về nó. Sẽ như thế nào mà khi công chúng tranh luận lại không được phép sao chép lại một đoạn đắt giá, một đoạn không đồng tình nào đó để nêu quan điểm của mình?
Nếu quy định siết chặt đến mức trích một phần cũng vi phạm, kèm theo vô vàn sự mơ hồ trong quy định xử phạt, vô hình trung tạo hiệu ứng tê cóng khi độc giả chọn cách không chia sẻ, thậm chí… chặn các fanpage báo, đài để tránh rắc rối pháp lý. [8][9]
Chức năng cơ bản của báo chí là chức năng thông tin, để hoàn thành chức năng cơ bản đó thì phải chấp nhận, thậm chí ủng hộ việc độc giả lan truyền các tin tức.
Thứ ba, quy định mới còn đe dọa cản trở một chức năng quan trọng khác của báo chí: thúc đẩy phản biện và giám sát xã hội.
Khi thông tin ít được lan tỏa, người ta không chia sẻ và bình luận rộng rãi, công chúng qua đó giảm thiểu cơ hội bày tỏ chính kiến, quan điểm về các sự kiện chính trị-xã hội.
Chức năng giám sát của báo chí không chỉ đến từ việc có một bài báo, bản tin được viết ra, mà còn nằm ở việc có bao nhiêu người biết đến nó. Ít người biết, ít người bàn, sao có thể hiệu triệu sức mạnh giám sát của công chúng?
Khi độ lan truyền đã giảm đi đáng kể, một bài báo phanh phui tiêu cực dù có đắt giá đến đâu, nếu chỉ nằm im trên website của tòa soạn và không thể chia sẻ, bàn luận sôi nổi trên mạng xã hội, nó sẽ giống như một tiếng hét trong phòng kín.
Từ đó, những sự việc đáng lẽ cần được quan tâm, chất vấn sẽ dễ dàng bị ngó lơ hoặc “chìm xuồng” vì không tạo ra đủ làn sóng dư luận để ép các bên liên quan phải chịu trách nhiệm.
Để nhìn rõ hơn, có thể lấy ví dụ về vụ bạo hành trẻ em ở Mái ấm Hoa Hồng (Quận 12 cũ, TP. Hồ Chí Minh) vào tháng 9/2024 – một vụ việc được đưa ra ánh sáng bởi báo Thanh Niên. [10]
Những hình ảnh dã man được công bố khiến dư luận bàng hoàng: các bảo mẫu liên tục đánh đập, tát, ném, giẫm đạp các bé sơ sinh, thậm chí có bé chỉ mới vài tháng tuổi, vào giờ ăn và giờ ngủ. Cơ sở này còn có dấu hiệu tiếp nhận vượt quá số lượng cấp phép để trục lợi từ các nhà hảo tâm (cấp phép tối đa 39 trẻ nhưng thực tế nuôi dưỡng tới 86 trẻ). [11]
Ngay sau khi loạt bài và video phóng sự được báo Thanh Niên phát hành sáng ngày 4/9/2024, các nội dung này lập tức được người dùng trích đoạn, chia sẻ và đã lan truyền với tốc độ chóng mặt trên TikTok, Facebook và YouTube.
Chính sức ép khủng khiếp từ dư luận được tiếp sức bởi những bằng chứng đanh thép của báo chí đã buộc bộ máy chính quyền vào cuộc với tốc độ nhanh chóng.
Ngay trong ngày 4/9/2024, Quận 12 và Sở Lao động – Thương binh và Xã hội TP. HCM đã lập tức niêm phong cơ sở. [12] Toàn bộ 86 em nhỏ tại đây được khẩn cấp di chuyển an toàn về các trung tâm bảo trợ xã hội công lập của thành phố (như Trung tâm Tam Bình, Làng Thiếu niên Thủ Đức) để được chăm sóc y tế và tâm lý. [13]
Công an TP.HCM lập tức vào cuộc, tạm giữ và sau đó khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bắt tạm giam chủ cơ sở và các bảo mẫu trực tiếp bạo hành về tội “hành hạ người khác” theo Điều 140 Bộ luật Hình sự. [14]
Thử hỏi rằng, nếu ngày đó có quy định quá khắt khe khiến người dân không được phép cắt video, không được trích dẫn hình ảnh, thông tin để chia sẻ lên TikTok, Facebook, v.v. thì sự việc này sẽ như thế nào?
Nhìn chung, không có sự khuếch thanh của công chúng thì tiếng nói của báo chí đã mất đi nhiều phần sức mạnh.
Vẫn tư duy “quản không được thì cấm”
Ở đây xuất hiện một vùng xám mà các nhà làm luật Việt Nam chưa phân định rõ ràng trong các văn bản dưới luật: thế nào là “tác phẩm báo chí có hình thức biểu đạt mang dấu ấn riêng” (được bảo hộ) và thế nào là “tin tức thời sự thuần túy” (không được bảo hộ)?
Một bài báo đưa tin: “Công an Quận 12 kiểm tra Mái ấm Hoa Hồng và phát hiện sai phạm” là một tin tức thời sự thuần túy (fact). Nó không được bảo hộ, bất kỳ ai cũng có quyền sao chép thông tin này.
Nhưng khi cơ quan quản lý ra một văn bản chung chung cấm sao chép “một phần nội dung bài báo”, họ có thể đánh đồng toàn bộ các thể loại báo chí làm một.
Khái niệm “tác phẩm báo chí” được luật bảo hộ vốn chỉ nên áp dụng cho bài phân tích, phóng sự phóng sự dài, phóng sự điều tra, v.v. có tính sáng tạo cao. Thế nhưng, nay nó có thể được diễn giải bao gồm cả những dòng tin tức sự kiện khách quan. Đây chính là sự mơ hồ trong việc soạn thảo quy định có thể đưa đến sự tùy tiện về mặt diễn giải, áp dụng.
Tại sao các nhà làm luật lại lờ đi sự khác biệt cơ bản trong nguyên tắc sở hữu trí tuệ là “ý tưởng” và “hình thức biểu đạt” ?
Câu trả lời có thể nằm ở sự bất lực trong quản lý.
Để giải quyết sự bất lực trong quản lý bản quyền báo chí, chính quyền có lẽ đã chọn cách… quản không được thì cấm. Họ gộp cả hai dạng thức báo chí khác nhau làm một để “thà bắt nhầm còn hơn bỏ sót”. Họ đưa ra một chế tài cực đoan, dùng một văn bản hành chính mơ hồ để phớt lờ nguyên tắc luật học kinh điển của thế giới.
Trong khi đó, quyền tiếp cận thông tin của công chúng là một quyền hiến định được quy định tại Điều 25 Hiến pháp 2013. [15] Với một chế tài nặng nề như hiện tại, quyền ấy có thể bị đe dọa nghiêm trọng.
Vốn dĩ, nhà nước không cần ban hành quy định và mức chế tài nặng nề này, vấn đề xâm phạm bản quyền báo chí vẫn có cơ chế điều chỉnh tự nhiên của nó.
Cụ thể, nếu tòa soạn A cho rằng người dùng B sử dụng trái phép bài viết của mình gây thiệt hại kinh tế, tòa soạn A có thể khởi kiện dân sự ra tòa để đòi bồi thường. Đó là phương thức vận hành tự nhiên của một xã hội pháp quyền, nhà nước chỉ cần đảm bảo quy trình tố tụng được thuận tiện, nghiêm minh.
Sự dài tay không cần thiết của chính quyền và tác động của quy định mới có thể khiến người dân đặt câu hỏi: liệu quy định này được sinh ra có thực sự để “bảo hộ sở hữu trí tuệ”, hay đã biến thành một cơ chế kiểm duyệt tinh vi đối với không gian ngôn luận?