38 năm trước, đã có một lễ phong thánh làm chính quyền bất an

Thúc Kháng

 Ngày 2/7/2026, theo dự kiến, hơn 70.000 người sẽ đổ về nhà thờ Tắc Sậy, Bạc Liêu (nay là tỉnh Cà Mau), thuộc Giáo phận Cần Thơ để tham dự lễ tuyên phong Chân phước cho linh mục Trương Bửu Diệp. [1]

Sự kiện này không chỉ đặc biệt về mặt tôn giáo, mà còn cả về mặt chính trị.

Trước linh mục Trương Bửu Diệp, đã có 117 vị tử đạo của Công giáo Việt Nam được tuyên phong hiển thánh vào năm 1988. Nhưng phải đến năm 2026, lần đầu tiên một nghi lễ tuyên phong như vậy mới được tổ chức ngay trên lãnh thổ Việt Nam.

Vì sao một nghi lễ tưởng như thuần túy tôn giáo lại phải mất mấy mươi năm mới có thể diễn ra công khai tại Việt Nam?

Và vì sao thánh lễ ở Cà Mau có thể được xem như một cột mốc trong quan hệ giữa chính quyền Việt Nam và Vatican?

Để hiểu điều đó, cần quay lại năm 1988, khi Vatican phong thánh cho 117 vị tử đạo Việt Nam, dưới một bầu không khí căng thẳng giữa chính quyền Việt Nam, Vatican và Giáo hội Công giáo Việt Nam.

Từ một quyết định của Vatican

Tháng 6/1987, Giáo hoàng Gioan Phaolô 2 chấp thuận việc tuyên thánh cho 117 vị tử đạo Việt Nam. Lễ phong thánh được ấn định vào ngày 19/6/1988 tại Vatican. [2]

Với Giáo hội Công giáo, đây là một sự kiện lớn. 117 vị tử đạo này đã được phong chân phước ( Á thánh) qua nhiều đợt khác nhau: dưới thời Giáo hoàng Lêô 13 năm 1900, Giáo hoàng Piô 10 năm 1906 và 1909, rồi Giáo hoàng Piô 12 năm 1951. [3]

Đến năm 1988, Giáo hoàng Gioan Phaolô 2 mới tuyên phong hiển thánh chung cho cả nhóm.

Sau khi quyết định được đưa ra, Vatican thông báo cho phía Giáo hội Việt Nam. Giáo hoàng Gioan Phaolô 2 gửi điện cho Hồng y Giuse Maria Trịnh Văn Căn, tổng giám mục Hà Nội kiêm chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam. [4]

Hồng y Căn sau đó đáp lời, cho biết người Công giáo Việt Nam vui mừng trước tin này, và ông dự định sẽ dẫn một phái đoàn từ Việt Nam sang Rome dự lễ.

Cùng thời điểm, một quan chức cao cấp của Phủ Quốc vụ khanh Vatican cũng gặp không chính thức Đại sứ Việt Nam tại Ý. Mục đích là báo trước cho phía Việt Nam về quyết định phong thánh, đồng thời đề nghị chính quyền cho phép người Công giáo trong nước được cử hành sự kiện và có thể gửi phái đoàn sang Vatican.

Ngay từ đầu, giới quan sát đã cho rằng khả năng Hà Nội chấp thuận là không cao.

Kể từ năm 1975, mối quan hệ giữa Tòa Thánh và Việt Nam vốn đã xấu đi nhiều. [5] Sau chiến thắng ngày 30/4/1975, chính quyền cộng sản đã bỏ tù hơn 300 linh mục Công giáo, đóng cửa hầu như tất cả các chủng viện đào tạo linh mục, và quốc hữu hóa trường học, bệnh viện, tổ chức từ thiện, trại trẻ mồ côi của giáo hội.

Mặc dù năm 1988 đã là năm thứ ba chính quyền Việt Nam bước vào thời kỳ Đổi Mới, nhưng các biện pháp đàn áp từ năm 1975 vẫn không thay đổi.

19 tháng Sáu, một ngày nhạy cảm với chính quyền

Trong số 117 vị tử đạo, có 96 người Việt Nam và 21 giáo sĩ ngoại quốc, gồm 11 tu sĩ Tây Ban Nha và 10 linh mục Pháp. [6] Với Giáo hội Công giáo, họ là những chứng nhân của đức tin, đại diện cho một lịch sử bách hại tôn giáo kéo dài nhiều thế kỷ tại Việt Nam.

Nhưng chính quyền Việt Nam cho rằng những giáo sĩ này đã mở đường cho Pháp vào xâm lược Việt Nam. [7] Và hơn hết họ cho rằng sự kiện phong thánh là dịp mà những người Việt tị nạn có thể lợi dụng để chống cộng. [8]

Tháng 3/1988, ông Nguyễn Quang Huy, chủ nhiệm Ủy ban Tôn giáo của Chính phủ, đã có một cuộc họp với các giám mục Việt Nam.

Ông Huy nói trong buổi họp rằng lễ phong thánh 117 vị tử đạo sẽ gây ra hậu quả tai hại, đặc biệt là với việc người Công giáo hòa nhập vào đời sống xã hội. [9]

Theo ông Huy, quyết định của Vatican tạo ra một tình hình không có lợi cho tôn giáo, gây khó xử cho giáo sĩ và giáo dân, xuyên tạc lịch sử dân tộc và làm tổn thương cảm xúc của người ngoài Công giáo. [10]

“Nhiều linh mục Công giáo cũng dựa vào thực dân để truyền bá và củng cố tôn giáo của họ. […] Tình trạng này đã để lại cho dân tộc ta và Công giáo nước ta nhiều vấn đề lịch sử mà cho đến nay vẫn chưa được giải quyết,” ông Huy nói.

Cuối cùng, ông đặt câu hỏi: Vatican có muốn mở lại trang sử cũ, thời các nhà truyền giáo vào Việt Nam cùng với chủ nghĩa thực dân phương Tây, làm sống lại ký ức mất nước vì ngoại xâm hay không? [11]

Ngày 4/3/1988, Hồng y Trịnh Văn Căn đã đến gặp Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Việt Nam Võ Chí Công để xin phép thông báo với Vatican về vấn đề này. [12] Nhưng đáp lại lời thỉnh cầu, ông Công đã yêu cầu các giám mục thực hiện nghĩa vụ của mình đối với dân tộc và Giáo hội Công giáo.

Khi ngày phong thánh đến gần, Hồng y Căn vẫn gửi thư xin chính quyền cho phép phái đoàn Công giáo sang Rome và cho phép giáo dân trong nước được cử hành thánh lễ. [13]

Những yêu cầu này đã không được chính quyền chấp thuận.

Đến tháng Tư năm 1988, Võ Thái Hòa, viên chức của Ủy ban Tôn giáo Chính phủ đã nói trong một cuộc phỏng vấn với hãng tin AP: “Việc phong thánh này không còn là một vấn đề tôn giáo nữa”. Ông Hòa cũng cáo buộc Vatican vì chưa bao giờ tham khảo ý kiến Hà Nội về việc phong thánh. [14]

Ông cho rằng trong số những người sắp được phong thánh, có những người từng tham gia vào việc xâm lược Việt Nam dưới vỏ bọc truyền giáo. [15] Ông cũng nói thêm rằng, trong các tài liệu thuộc hồ sơ phong thánh, Vatican nên loại bỏ những nhận định cho rằng chính quyền Việt Nam đã đàn áp Giáo hội suốt 300 năm.

Một điểm khác khiến phía Việt Nam không hài lòng là trong hồ sơ có những tài liệu nhắc đến tên “Việt Nam Cộng hòa”. Theo ông, cách gọi này nên được thay bằng tên chính thức hiện nay của Việt Nam: Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Tuy vậy, mối lo ngại lớn hơn của chính quyền có lẽ nằm ở khả năng người Việt hải ngoại sẽ tổ chức biểu tình trong dịp lễ tại Vatican, kích động người Công giáo Việt Nam chống lại chính quyền.

“Họ đang chuẩn bị cờ Nam Việt Nam và các áp phích chống cộng cho dịp này,” ông Hòa nói.

Một lễ phong thánh không có giám mục Việt Nam

Đến gần ngày 19/6/1988, chính quyền Việt Nam đã áp dụng các biện pháp hạn chế cụ thể.

Trước hết, các giám mục Việt Nam không được phép sang Rome. [16]

Thứ hai, chính quyền yêu cầu người Công giáo trong nước không cử hành lễ phong thánh đúng ngày 19/6.

Đài Phát thanh Hà Nội khi đó đưa tin rằng Chính phủ yêu cầu người Công giáo không tổ chức lễ phong thánh, lý do mà chính quyền đưa ra là vì ngày này trùng với ngày kỷ niệm Quân lực Việt Nam Cộng hòa. [17]

Sau đó, Vatican đã phản hồi rằng đây chỉ là sự trùng hợp. [18]

Ngày 19/6/1988, lễ phong thánh diễn ra tại Vatican.

Không một chức sắc Công giáo nào từ Việt Nam được phép xuất cảnh sang Rome để tham dự. Nhưng trong khoảng 20.000 người có mặt tại Quảng trường Thánh Phêrô, có tới 8.000 người là người Việt hải ngoại. [19]

Trong bài giảng, Giáo hoàng Gioan Phaolô 2 mở đầu bằng lời chào gửi đến Giáo hội tại Việt Nam và toàn thể dân tộc Việt Nam. Ông cũng nhắc đến Hồng y Trịnh Văn Căn và hàng giám mục Việt Nam.

Một phần quan trọng trong thông điệp của Giáo hoàng là cách ông đặt các vị tử đạo vào quan hệ với dân tộc Việt Nam.

Ông nói rằng các vị tử đạo Việt Nam không chối bỏ truyền thống văn hóa hay các định chế hợp pháp của đất nước. Ngược lại, Giáo hội Việt Nam, qua chứng tá của các vị tử đạo, muốn nhập thể trong lòng dân tộc và đóng góp vào sự phát triển thật sự của quê hương.

Báo chí quốc tế khi đó mô tả rằng Giáo hoàng Gioan Phaolô 2 đã tiến hành lễ phong thánh bất chấp sự phản đối gay gắt của chính quyền cộng sản Việt Nam. [20]

Trong buổi lễ, Giáo hoàng tôn vinh “sức sống và sự vĩ đại” của Giáo hội Việt Nam, sự kiên nhẫn và khả năng đối diện khó khăn của cộng đồng Công giáo Việt Nam.

Ông cũng kêu gọi chấm dứt đàn áp tôn giáo ở Việt Nam, đồng thời nhấn mạnh rằng người Công giáo Việt Nam trung thành với đất nước cũng như với Giáo hội của họ.

Đó là cách Vatican đáp lại cáo buộc từ phía chính quyền Việt Nam.

Sau ngày 19/6, ông Nguyễn Quang Huy nói rằng nếu Vatican tham khảo ý kiến của Hà Nội và nếu lễ phong thánh được chọn vào một ngày khác 19/6, thì có lẽ chính quyền đã cho phép phái đoàn Giáo hội Việt Nam đến tham dự buổi lễ. [21]

Và để thể hiện thiện chí, chính quyền nói họ sẽ cho phép tổ chức các lễ mừng việc phong thánh tại các nhà thờ Việt Nam vào ngày 1/9/1988.

Đến tháng 9/1988, quả thực là một số giáo xứ được phép tổ chức thánh lễ tạ ơn mừng 117 vị thánh tử đạo. Nhưng sự cho phép ấy đi kèm những điều kiện rõ ràng. [22]

Cụ thể, chính quyền bắt buộc các thánh lễ không được tổ chức bên ngoài khuôn viên nhà thờ, ảnh hoặc tượng các thánh phải nhỏ, và bản văn phụng vụ phải lấy từ phần chung các thánh tử đạo trong Sách lễ Rôma, với một số giới hạn về bài đọc.

Chính quyền nới lỏng đàn áp

Sau động thái mới của Hà Nội với vụ phong thánh, quan hệ Việt Nam – Vatican không lập tức cải thiện. Trong nhiều năm tiếp theo, hai bên vẫn tỏ ra thận trọng và thậm chí là không tìm được tiếng nói chung, đặc biệt quanh các vấn đề như bổ nhiệm chức sắc, tài sản Giáo hội hay bắt tù cải đạo đối với các linh mục.

Năm 1991, trước tình trạng thiếu hụt linh mục ở Việt Nam do các biện pháp hạn chế của chính quyền Việt Nam, Hồng y Bernard Law đã dẫn đầu một phái đoàn đến Hà Nội. [23] Hồng y Law đã nói với Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cần rằng ông đang thúc đẩy để Hoa Kỳ bỏ lệnh cấm vận Việt Nam.

Vì nhu cầu phát triển kinh tế, chính quyền Việt Nam đã dần nới lỏng các biện pháp đàn áp tôn giáo.

Đến năm 2018, nhân dịp kỷ niệm 30 năm phong thánh, Giáo hội Công giáo Việt Nam được phép tổ chức lễ kỷ niệm tại nhiều địa điểm quan trọng như Sở Kiện, La Vang, và Ba Giồng. [24] Đây là lần đầu tiên Giáo hội Công giáo công khai cử hành lễ kỷ niệm phong thánh cho 117 vị tử đạo Việt Nam kể từ sự kiện năm 1988. [25]

Quan hệ Việt Nam – Vatican, dù chậm, cũng có những bước tiến triển.

Hai bên duy trì đối thoại, rồi từng bước nâng cấp quan hệ. Đến năm 2023, Việt Nam và Tòa Thánh đạt thỏa thuận về Quy chế Đại diện thường trú của Tòa Thánh tại Việt Nam. [26]

Cuối năm đó, Giáo hoàng Phanxicô bổ nhiệm Tổng giám mục Marek Zalewski làm Đại diện thường trú đầu tiên của Tòa Thánh tại Việt Nam. [27]

Đây chưa phải là quan hệ ngoại giao đầy đủ và chính thức. [28] Nhưng so với năm 1988, đó là một khoảng cách rất lớn.

***

Nhìn từ năm 1988, thánh lễ tại Tắc Sậy ở Cà Mau năm 2026 vì thế mang một ý nghĩa vượt ra ngoài một nghi lễ tôn giáo.

Ba mươi tám năm trước, khi Vatican phong thánh cho 117 vị tử đạo Việt Nam, hàng giám mục trong nước không được phép sang Rome. Người Công giáo trong nước bị yêu cầu không cử hành đúng ngày.

Sau đó 38 năm, một lễ tuyên phong Chân phước cho linh mục Trương Bửu Diệp lại được tổ chức ngay tại Việt Nam, với quy mô dự kiến lên tới vài vạn người. Buổi lễ diễn ra dưới sự chuẩn bị công khai của Giáo hội địa phương và trong một bối cảnh quan hệ Việt Nam – Vatican đã được cải thiện đáng kể.

Với nhiều người, có lẽ họ đã không thể chờ đợi đến 38 năm để chứng kiến sự thay đổi ấy.

Next
Next

Phạt đến 30 triệu vì chia sẻ tin tức: Bước tiến bảo hộ bản quyền hay bước lùi của báo chí?