Vì sao nhân dân những nước cộng sản phải bầu cho… người lạ!

Minh Viễn

Ngày 15 tháng Ba tới đây, nhiều người Việt Nam sẽ đi bỏ phiếu. Tại các điểm bỏ phiếu được trang hoàng rực rỡ, người ta dựng những tấm bảng để yết lên trên đó danh sách ứng cử viên của ba cấp: hội đồng nhân dân xã/phường, hội đồng nhân dân tỉnh/thành phố, và đại biểu Quốc hội.

Mỗi 5 năm, người dân cả nước lại chứng kiến một ngày như thế. Mỗi 5 năm, một điều lạ lùng cứ lặp đi lặp lại, khiến không ít người bỗng quên đi nó là chuyện lạ thường: trên những bảng danh sách kia, hầu hết là những cái tên xa lạ, chỉ chứa vỏn vẹn vài dòng về thông tin cá nhân, trình độ chuyên môn, ngày vào đảng, vắn tắt chương trình hành động, v.v.

Bạn không biết nếu chọn những người này, họ sẽ làm gì để giúp cuộc sống của bạn tốt hơn, bởi ngay cả chương trình hành động mà các ứng viên này theo đuổi bạn cũng không được biết rõ. Người ta càng không được chứng kiến bất kỳ hoạt động thảo luận, tranh luận chính trị gay gắt nào trên các phương tiện truyền thông, như lối vận động tranh cử vẫn thường thấy ở nhiều nền dân chủ.

Nhưng dù muốn hay không, những người trúng cử vẫn được gọi là đại biểu của nhân dân tức những người sẽ thay mặt bạn tham gia quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước.

Điều này dẫn tới một câu hỏi tưởng chừng đơn giản nhưng thực ra rất căn bản: Vì sao lại xuất hiện những ứng viên này? Và vì sao nếu được chọn, những đại biểu đó có thể được coi là người đại diện cho ý chí của nhân dân?

Để hiểu điều đó, cần quay lại một cuộc tranh luận triết học bắt đầu từ hơn hai thế kỷ trước về tính đại diện của nhà nước. Sau đó, ta sẽ thử nhìn về nguyên bản của mô hình nhà nước cộng sản tại Liên Xô, để tìm hiểu nguồn gốc của thể thức bầu cử hiện nay tại Việt Nam.

Khi quyền lực được nói là thuộc về nhân dân

Trước thế kỷ 18, tại phần lớn các quốc gia châu Âu, quyền lực chính trị thường xuất phát từ thần quyền hoặc vương quyền. Bước vào Thế kỷ Ánh sáng, các nhà tư tưởng của thời kỳ Khai minh bắt đầu đưa ra một ý tưởng hoàn toàn khác: quyền lực chính trị phải thuộc về nhân dân, và nhà nước chỉ là một bộ máy được nhân dân ủy quyền.

Một trong những người diễn đạt ý tưởng đó rõ ràng nhất là triết gia Pháp Jean-Jacques Rousseau (1712-1778). Trong cuốn Khế ước xã hội xuất bản năm 1762, ông lập luận rằng nhà nước được hình thành từ một “khế ước” giữa các công dân, và quyền lực chính trị của một nhà nước chỉ hợp pháp khi nó phản ánh ý chí chung của cộng đồng. [1]

Khái niệm ý chí chung trở thành một trong những ý tưởng có sức ảnh hưởng sâu rộng nhất trong triết học chính trị hiện đại. Về cơ bản, khái niệm này được hiểu như sau: theo Rousseau, nhà nước không thể là công cụ đại diện và phục vụ cho một cá nhân hay một nhóm nhỏ. [2] Nhà nước phải đại diện cho toàn thể quốc dân, và phải hướng đến lợi ích chung của toàn xã hội.

Ý tưởng đó đã truyền cảm hứng cho các nhà cách mạng trong Cách mạng Pháp cuối thế kỷ 18 và đã góp phần định hình nguyên tắc nền tảng của chính trị hiện đại: quyền lực nhà nước phải xuất phát từ nhân dân. [3]

Nhưng ngay khi nguyên tắc này được chấp nhận, thì một câu hỏi thực tế và muôn thuở lập tức xuất hiện: nhân dân là chủ, nhưng nhân dân lại quá đông, mỗi công việc của đất nước làm sao có thể chờ chờ sự tham gia và quyết định của mọi người dân? Và nếu nhân dân không thể trực tiếp tham gia, thì ai sẽ thay mặt nhân dân đưa ra quyết định?

Khi câu hỏi về “nhân dân” trở nên phức tạp hơn

Khi quốc gia trở nên đông dân cư, việc toàn bộ người dân trực tiếp tham gia mọi quyết định chính trị gần như là không thể. Vì vậy nhiều quốc gia, mà tiên phong là nền Cộng hòa La Mã (509-27 TCN), đã phát triển mô hình dân chủ đại diện, cho phép người dân bầu ra các đại biểu để thay mặt mình tham gia các cơ quan quyền lực nhà nước.

Mô hình này sau đó đã lan tỏa và phát triển trong thời kỳ Trung cổ tại Âu châu. Tuy nhiên, sang thế kỷ 18, những nhà tư tưởng Khai minh đã bắt đầu nghi ngờ rằng tính đại diện trong những nhà nước kiểu này chưa chắc đã phản ánh đúng ý chí của toàn xã hội.

Những học thuyết của Rousseau như vừa nêu, hay bên cạnh đó là những Montesquieu, John Locke, v.v. đã tìm kiếm giải pháp nhằm phác thảo một bản khế ước chặt chẽ nhất, kết nối giữa ý chí của nhân dân với quyền lực của nhà nước. Chính tư tưởng của các ông đã đưa đến sự bùng nổ của những cuộc cách mạng tư sản cho ra đời những nhà nước dân chủ hiện đại đầu tiên tại châu Âu và Hoa Kỳ.

Thế nhưng, đến đây vẫn chưa phải là hồi kết cho những câu hỏi nhức nhối bên trên. Một số ý kiến phản biện vẫn xuất hiện, đưa đến sự hình thành của những ý tưởng nhà nước khác.

Đơn cử như Karl Marx (1818-1883) cho rằng các xã hội hiện đại không phải là một cộng đồng thống nhất mà trong nó luôn có sự phân chia thành các giai cấp theo đuổi những lợi ích khác nhau. [4] Trong tình huống đó, nhà nước thường chỉ phản ánh lợi ích của giai cấp nắm quyền lực kinh tế và chính trị. [5]

Từ góc nhìn của Marx, câu hỏi quan trọng cần được đặt ra để chất vấn các mô hình nhà nước dân chủ không chỉ là ai đại diện cho nhân dân, mà là nhà nước đại diện cho giai cấp nào.

Chính từ câu hỏi căn cơ này, những mô hình nhà nước cách mạng trong thế kỷ 20 đã ra đời.

Lenin và mô hình nhà nước cách mạng

Đầu thế kỷ 20, nhà cách mạng Nga Vladimir Lenin (1870-1924) đã phát triển các ý tưởng về chủ nghĩa cộng sản của Marx, để lần đầu tiên hiện thực hóa tư tưởng của triết gia Đức này thành một nhà nước “bằng xương bằng thịt”.

Trong cuốn Làm gì? Lenin cho rằng phong trào công nhân cần một tổ chức chính trị chặt chẽ để lãnh đạo cuộc đấu tranh của mình. [6] Ông gọi đó là đảng tiên phong, tức một tổ chức gồm những người hoạt động chính trị chuyên nghiệp, có nhiệm vụ tổ chức và dẫn dắt phong trào cách mạng. [7]

Sau Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, một mô hình nhà nước cộng sản chủ nghĩa mới toanh đã được hình thành ở Liên Xô. Trong hệ thống này, đảng cách mạng giữ vai trò lãnh đạo chính trị, còn nhà nước vận hành thông qua các cơ quan đại diện được bầu.

Bầu cử vẫn tồn tại, nhưng không phải theo kiểu cạnh tranh giữa nhiều đảng chính trị khác nhau như trong các nền dân chủ phương Tây. Thay vào đó, hệ thống chính trị được tổ chức quanh một lực lượng lãnh đạo duy nhất.

Hiệp thương – bước lọc trước ngày bầu cử

Một đặc điểm quan trọng của mô hình bầu cử của Liên bang Xô viết (và của nhiều nước cộng sản khác sau này) là cơ chế hiệp thương.

Hiểu một cách đơn giản, hiệp thương là quá trình thảo luận và thống nhất danh sách ứng viên trước khi bầu cử diễn ra. [8] Điều đó có nghĩa là ngày cử tri đi bỏ phiếu không phải là điểm khởi đầu của việc lựa chọn đại biểu, mà là bước cuối cùng của một quá trình đã diễn ra từ trước trong hệ thống chính trị.

Tại Liên Xô, sau khi ban hành Hiến pháp Liên Xô 1936, hệ thống Xô viết cho phép nhiều tổ chức quần chúng như công đoàn, hợp tác xã, đoàn thanh niên, và các hội đoàn xã hội tham gia đề cử ứng viên vào các cơ quan quyền lực nhà nước. [9]

Điều 126 của bản hiến pháp này quy định rằng công dân Liên Xô có quyền tham gia vào các tổ chức xã hội như công đoàn, hợp tác xã, đoàn thanh niên, các hội khoa học, văn hóa, và kỹ thuật. Đồng thời, điều khoản này cũng mô tả Đảng Cộng sản Liên Xô là “đội ngũ tiên tiến của nhân dân lao động” và là hạt nhân lãnh đạo của tất cả các tổ chức của người lao động, bao gồm cả các tổ chức xã hội và các cơ quan nhà nước.

Điều đáng chú ý là Hiến pháp năm 1936 không trực tiếp tuyên bố Đảng Cộng sản là lực lượng lãnh đạo nhà nước theo nghĩa pháp lý, điều mà phải đến Hiến pháp 1977 mới được nêu rõ. [10] Thay vào đó, Hiến pháp 1936 mô tả đảng như trung tâm lãnh đạo của toàn bộ mạng lưới các tổ chức xã hội và nhà nước. 

Trong thực tế, cấu trúc này khiến các tổ chức quần chúng từ công đoàn đến đoàn thanh niên đều vận hành trong cùng một hệ thống chính trị, chia sẻ chung một ý thức hệ chính trị, với đảng cộng sản giữ vai trò định hướng.

Vì vậy, dẫu luật pháp cho phép nhiều tổ chức có quyền giới thiệu ứng viên, danh sách cuối cùng thường đã được thống nhất trong nội bộ hệ thống trước khi đưa ra bầu cử.

Mô hình này sau đó, dễ thấy rõ, đã có ảnh hưởng đến nhiều quốc gia xã hội chủ nghĩa khác, trong đó có Việt Nam.

Ở Việt Nam, thể thức hiệp thương đã xuất hiện khá sớm. Trong cuộc Tổng tuyển cử Việt Nam 1946 – cuộc bầu cử quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. [11] Các lực lượng chính trị khi đó đã tiến hành những thỏa thuận trước để phân chia số lượng ứng viên giữa các tổ chức và đảng phái đang hoạt động lúc bấy giờ.

Sau này, khi hệ thống chính trị dần đi vào ổn định, vai trò tổ chức quá trình hiệp thương được giao cho Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. [12]

Tổ chức này được thành lập năm 1955 như một liên minh chính trị – xã hội tập hợp nhiều đoàn thể và tổ chức quần chúng. Trong các kỳ bầu cử, Mặt trận Tổ quốc giữ vai trò chủ trì quá trình hiệp thương để lập danh sách ứng viên cho các cơ quan dân cử, như Quốc hội Việt Nam và hội đồng nhân dân các cấp. [13]

Về thể thức tiến hành hiệp thương, một bài viết trên Luật Khoa của tác giả Thúc Kháng đã trình bày tương đối tổng quan, ở đây chỉ xin nêu lại ngắn gọn. [14]

Quy trình hiệp thương thường diễn ra qua nhiều vòng. Trước hết, các cơ quan, tổ chức và địa phương giới thiệu người ứng cử. Sau đó các hội nghị hiệp thương sẽ thảo luận, lấy ý kiến và sàng lọc để lập danh sách chính thức. 

Chỉ sau khi danh sách này được hoàn tất, các ứng viên mới được công bố để cử tri lựa chọn trong ngày bầu cử. Điều này có nghĩa là ngày cử tri đi bỏ phiếu vì vậy không phải là lúc các ứng viên cạnh tranh để giành vị trí như trong các cuộc bầu cử tự do và đa đảng ở nhiều quốc gia khác. Thay vào đó, những gì diễn ra trong ngày “toàn dân đi bầu” chỉ là bước cuối cùng của một quá trình lựa chọn, sắp đặt đã âm thầm diễn ra từ trước.

Chính cơ chế này cũng giúp giải thích vì sao trong các kỳ bầu cử ở Việt Nam thường không có những chiến dịch vận động chính trị sôi nổi hay các cuộc tranh luận công khai giữa các ứng viên. Bởi lẽ, phần lớn những cuộc thảo luận hay những sự đụng độ, nếu có, đã chấm dứt, và đạt sự thống nhất từ trước. Qua đó, danh sách đại biểu và đường hướng chính trị có thể đã được chốt hạ ngay trong quá trình hiệp thương.

Quay lại phòng bỏ phiếu

Từ mô hình Xô viết của thế kỷ 20, nhiều quốc gia xã hội chủ nghĩa sau đó đã xây dựng nên hệ thống chính trị của mình theo những nguyên tắc tương tự, và Việt Nam là một đại biểu.

Theo cách tổ chức này, các đại biểu dân cử không vận động bằng những chương trình chính trị và cạnh tranh sát ván nhau như trong các nền dân chủ đa đảng. Trái lại, họ hoạt động trong một cấu trúc chính trị rộng hơn do Đảng Cộng sản Việt Nam giữ vai trò lãnh đạo, trong đó các đại biểu chủ yếu chỉ thừa lệnh và thực thi.

Thực tế này là hệ quả của nguyên tắc tập trung dân chủ, một nguyên tắc tổ chức do Vladimir Lenin phát triển. [15] Theo nguyên tắc này, các quyết định chính trị quan trọng được thảo luận trong nội bộ tổ chức trước, sau đó thống nhất thành một đường lối chung mà toàn bộ hệ thống chính trị sẽ thực hiện.

Vì lẽ đó, các ứng viên trong danh sách bầu cử không có lý do gì phải ra sức vận động tranh cử bằng những chương trình chính sách mới lạ, khác biệt, cũng không cần gay gắt cạnh tranh nhau trong những cuộc tranh luận công khai. 

Trở lại câu hỏi nền tảng, rằng tính đại diện của mô hình hiệp thương – bầu cử cộng sản chủ nghĩa rõ nét đến đâu? Những đại biểu được chọn ra từ những cuộc bầu cử kiểu này có thực sự đại diện được cho nhân dân? Và vì sao với nhân dân trong ngày bầu cử, dường như ai cũng thấy rõ mình phải đi bầu cho những người hoàn toàn xa lạ, không có một cơ sở nào chắc chắn để đưa ra lựa chọn?

Theo logic của hệ thống bầu cử xã hội chủ nghĩa, quyền lực chính trị vẫn được nói là xuất phát từ nhân dân, và được thực hiện thông qua các đại biểu trong những cơ quan dân cử như Quốc hội Việt Nam và hội đồng nhân dân các cấp. Tuy nhiên, điểm đứt gãy lớn nhất cho tính đại diện của mô hình này nằm ở chỗ: người dân dường như không thực sự chọn ra đại biểu của mình. Và vì thế, những người được xem là đại biểu kia, rõ ràng, hoàn toàn mất kết nối với nhân dân. 

Những cái tên được gạch lẫn được giữ lại trên từng lá phiếu trong ngày bầu cử, họ thực sự đại diện cho ai? Có lẽ đến đây, đáp án của câu hỏi này mỗi người đã tự có cho mình.

Previous
Previous

Tưởng niệm Gạc Ma: Trung ương im lìm, địa phương cử lãnh đạo mặt trận đi dự

Next
Next

Hà Nội Sắp Có Chủ Tịch Mới: Quản Trị Dân Sự Hay “Doanh Trại Hóa” Thủ Đô?