TƯỞNG NIỆM 51 NĂM QUỐC HẬN TẠI TƯỢNG ĐÀI CHIẾN SĨ VIỆT MỸ ARLINGTON, TEXAS

Quang cảnh tổng quát trước khi bắt đầu nghi thức chào cờ Mỹ - Việt

Arlington, TX.- Năm mươi mốt năm (51) đã trôi qua từ ngày miền Nam Việt Nam rơi vào tay quân Cộng Sản Bắc Việt, người Việt tỵ nạn khắp nơi trên thế giới đều không thể quên Tháng Tư năm 1975, tháng đen tối nhất của lịch sử dân tộc Việt. Năm nay (2026), Ủy Ban Bảo Tồn Tượng Đài Chiến Sĩ  thành phố Arlington, tiểu bang Texas đã tổ chức Lễ Tưởng Niệm Quốc Hận lần thứ 51 vào lúc 11:30 giờ trưa ngày 26 tháng 4 năm 2026…

Rước lá cờ thiêng

Đúng 12:00 giờ, chương trình rước ngọn cờ thiêng màu vàng ba sọc đỏ từ phía dưới hướng về bàn thờ Tổ Quốc và Tượng Đài với giọng hát của chính tác giả là ca nhạc sĩ Hoàng Tường. Lá cờ thật lớn với nhiều người nâng lên từ bốn phía đã phải giữ chặt vì một ngày có gió… Lá cờ bồng bềnh theo gió lúc lên cao khi xuống thấp cùng với ánh mắt chăm chú theo dõi của tất cả mọi người. Tiếng hát của ca nhạc sĩ Hoàng Tường chấm dứt cũng là lúc nghi thức Lễ Chào Quốc Kỳ Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hoà bắt đầu do Hội trưởng Cựu SVSQ/TB Nguyễn Ngọc Sơn điều khiển. Toán rước Quốc Quân Kỳ tiến về phía kỳ đài và hàng quân danh dự trong các bộ quân phục của các binh chủng tham dự. Sau bài quốc ca VNCH, lá cờ vàng ba sọc đỏ thân yêu được kéo xuống lưng chừng cột cờ trong tư thế “Cờ Rũ”.

Tiếp theo là nghi thức đặt vòng hoa Tưởng Niệm trước Tượng Đài Chiến Sĩ, thông thường mỗi lần như vậy trước đây tôi chỉ thấy tối đa 5 người nhưng lần này ban tổ chức lại mời gọi khá đông người, phải chen chân mới đủ chỗ đứng cho thích hợp. Tự nhiên tôi cảm thấy mất đi sự nghiêm trang! 

Đặt vòng hoa Tưởng niệm !

Tiếp tục chương trình là nghi thức tế lễ cổ truyền do Hội Người Việt Cao Niên Dallas phụ trách tuy có cố gắng nhưng cũng không được nhuần nhuyễn như các năm trước có thể thiếu sự kết hợp chặt chẽ, nhịp nhàng. Tiếp nối là đọc văn tế theo nghi thức truy điệu do bà Đỗ Thu Nga, Giám Đốc Đài Phát Thanh Saigon Dallas 1160AM diễn đọc…

Từ trái sang phải ông bà Nghị viên Phạm Long – Nghị viên Jimmy Trần-Ông bà Nguyễn văn Tường và Thầy Thích Quảng Lợi

Một góc nhìn khác hình ảnh người tham dự

Một góc quang cảnh ngày Tưởng niệm Quốc Hận tại Tượng Đài 26-4-2026

Bước qua phần phát biểu, lần lượt là Bác sĩ Đàng Thiện Hưng Chủ tịch Ủy Ban Bảo Tồn Tượng Đài cũng là trưởng ban tổ chức buổi Lễ Tưởng Niệm Quốc Hận lần thứ 51 tại Tượng Đài Chiến Sĩ Việt – Mỹ:

Bác sĩ Đàng Thiện Hưng Chủ tịch Ủy Ban Tượng Đài trưởng ban tổ chức phát biểu

“Tôi xin được đại diện ban tổ chức gởi đến quý vị lời chào trân trọng nhất của buổi lễ “Ngày Quốc Hận 30 Tháng Tư”.  Dòng thời gian một lần nữa đã đưa chúng ta về kỷ niệm lần thứ 51 từ ngày chúng ta bị mất nước.  51 năm đã trôi qua, nhưng chúng ta vẫn không bao giờ quên được những thảm cảnh những ngày của Tháng Tư Đen năm 1975 khi khói lửa tràn lan trên khắp nẻo đường đất nước, khi hàng trăm ngàn người phải bỏ xứ ra đi, khi một quân đội hào hùng phải nghẹn ngào buông súng vì bị đồng minh phản bội, khi những chiếc dép râu dẫm nát quê hương, và những chiếc mũ tai bèo che mờ tương lai của những người dân Việt.  Ngày 30 tháng 4 năm 1975 là một cột mốc lịch sử đầy biến động và đau thương đối với những người dân miền Nam Việt Nam và cộng đồng người Việt hải ngoại mà chúng ta gọi bằng những cái tên đầy đau xót như "Ngày Quốc Hận", "Tháng Tư Đen", hay "Ngày mất nước".  Danh xưng này không chỉ đơn thuần nói về một sự kiện quân sự hay chính trị, mà nó gói gọn nỗi lòng của hàng triệu người phải rời bỏ quê hương để tìm tự do khi mất nước nhà tan, và của những người Miền Nam phải sống dưới gông cùm của chế độ độc tài cộng sản.  Những danh xưng này nói lên nỗi đau tận cùng của một quốc gia Việt Nam Cộng Hòa đã sụp đổ vì sự phản bội của đồng minh, nói lên những hy sinh quá đớn đau của những chiến sĩ QLVNCH trong cuộc chiến, một thế hệ thanh niên Miền Nam đã anh dũng chiến đấu bảo vệ lãnh thổ, chiến đấu cho Tự Do Dân Chủ, cho người Miền Nam được sống trong tự do an bình.   Những danh xưng này nói lên những khổ đau của những sĩ quan phải sống những năm tháng khổ sai trong ngục tù cộng sản.  Những danh xưng này nói lên niềm đau đớn ngút ngàn của hàng triệu người phải bỏ nước ra đi tìm Tự Do, nói lên những cái chết đắng cay của hàng vạn người trên biển cả, trong rừng sâu đã không đến được bến bờ tự do. Những danh xưng nói lên những ước mơ được sống trong Tự Do bị dập tắt của những đồng bào ta phải ở lại sống dưới chế độ độc tài đảng trị, và nói lên những mất mát quá lớn lao không thể bù đắp trong lòng chúng ta những người Việt phải sống xa quê hương trên xứ lạ quê người.

Sau Tháng Tư Đen 1975 quê hương đã không còn tiếng súng, nhưng những tiếng đạn bom đã thay bằng những tiếng khóc than của những chia ly mất mát trong cảnh kẻ ở người đi, của những nạn nhân vùng kinh tế mới, của những người bị đánh tư sản, của những trẻ mồ côi và những người tật nguyền sống lê la bên lề xã hội, và của những người Miền Nam mất tự do phải chịu đọa đày dưới gông cùm cộng sản.  Những tiếng đạn bom đã được thay bằng những tiếng thở dài khổ đau của những anh hùng sa cơ thất thế sống trong lao tù cải tạo.  Những tiếng đạn bom đã được thay bằng những tiếng kêu khóc thê lương trong giờ phút tuyệt vọng của những người đã bỏ thây trên đường tìm Tự Do, như còn vang vọng lại trong tiếng sóng rì rào của Thái Bình Dương, như còn vang vọng lại cùng tiếng côn trùng khắc khoải của những núi đồi rừng thiêng nước độc.

Khi rời xa quê hương con tim chúng ta đều trĩu nặng một niềm thương nổi nhớ da diết khôn nguôi cho gia đình và quê hương đã bỏ lại.  Người đời nói thời gian là liều thuốc tiên có thể làm lành mọi vết thương.  Nhưng thời gian của 51 năm đã trôi qua rồi mà sao lòng ta vẫn còn quặn đau niềm đau mất nước, vẫn không quên được những giờ phút đau buồn của Tháng Tư Đen 1975.  Đã 51 năm rồi mà sao ta vẫn không quên được ngày gia đình chia cách khi cha từ giả để đi trình diện học tập cải tạo, 1 tháng đã trở thành 13 năm khổ sai trong ngục tù cộng sản, vì trời thương nên cha mới còn sống sót trở về.  Sao ta vẫn không quên được hình ảnh mẹ cần cù tháng năm tần tảo lam lũ thay chồng nuôi 7 đứa con thơ thiếu cha.  Sao ta vẫn không quên được những tháng năm gian khổ sau ngày gọi là "giải phóng" với những bữa ăn cơm độn khoai sắn bửa đói bửa no.  Đã 51 năm rồi mà sao ta vẫn không quên được một đêm tối trời vượt biển và những giờ phút lênh đênh trên biển cả với chiếc ghe nhỏ không biết sống chết ra sao.  Sao ta vẫn không quên được những năm tháng xa nhà bơ vơ trên xứ lạ quê người nhớ cha nhớ mẹ, nhớ chị nhớ em, nhớ quê nhà, ban ngày đi học đi làm để kiếm tiền gởi về cho gia đình và cho mẹ thăm nuôi cha trong tù cải tạo, đêm về cô đơn hiu quạnh cố tìm lại hình ảnh cha mẹ chị em trong giấc mộng mong manh, nhiều đêm bàng hoàng tỉnh giấc với những giọt nước mắt lẻ loi một mình.  Đã 51 năm rồi mà sao ta vẫn không quên được những giọt lệ mừng vui và những vòng tay ôm trìu mến trong ngày đoàn tụ gia đình sau 16 năm dài xa cách.  Đã 51 năm rồi mà sao lòng ta vẫn không quên được những kỷ niệm êm đềm và những ngày tháng vô tư của tuổi thơ được sống bên mẹ bên cha, bên anh chị em dưới mái nhà xưa.  Đã 51 năm rồi mà sao ta không quên được lời mẹ ru ầu ơ cùng tiếng võng kẽo kẹt ru con vang trong xóm nhỏ, những tiếng trẻ ê a bài học vỡ lòng, những tiếng ve sầu vấn vương gọi hạ về trên những hàng phượng vĩ, cùng những tiếng dế gáy đêm hè như dòng nhạc ru ngủ tuổi thơ.  Đã 51 năm rồi mà sao ta không quên được hình ảnh những người bạn cố hương và những ngày tháng mộng mơ của tuổi học trò dưới mái trường xưa bên thầy bên bạn, những lúc ra chơi chia nhau từng trái me trái cóc, những vết khắc trên bàn gỗ ghi lại những nỗi nhớ mênh mông vào những ngày đầu hạ, và những lời chúc thơ ngây cùng viết cho nhau trong những trang lưu bút màu xanh của tuổi học trò.  Đã 51 năm rồi mà sao ta không quên được những ngày về quê ngoại có những hàng dừa xanh nghiêng mình bên những chiếc xuồng ba lá nằm bên bờ sông hiền hòa nước lớn nước ròng tắm mát tuổi thơ, có những cánh đồng lúa trổ đòng đòng đượm nồng mùi quê hương của hương đồng gió nội, có những cánh cò gọi nhau bay về tổ ấm khi bóng ngả chiều tà, và tiếng ru con bên kia sông từ xa vọng lại: “Ầu ơ dí dầu... Đêm khuya trăng rụng xuống cầu, Nhớ cha thương mẹ dãi dầu ruột đau”.  Đã 51 năm rồi mà sao trong ta vẫn không phai mờ nổi niềm thương nhớ quê nhà, mà sao trái tim vẫn còn thổn thức da diết gọi thầm hai chữ “Việt Nam”.

Ngày 30 Tháng 4 mãi mãi là một ngày không quên trong tâm trí của mỗi chúng ta. Dù hơn nửa thế kỷ đã trôi qua nhưng tinh thần của "Ngày Quốc Hận" vẫn nhắc nhở chúng ta rằng giá trị của Tự Do phải trả bằng những cái giá rất đắt, bằng mồ hôi nước mắt, bằng máu xương, bằng 300 ngàn sinh mạng của một thế hệ Cha Anh trong 20 năm dài chinh chiến.  Trách nhiệm của chúng ta ngày nay là không bao giờ được lãng quên lịch sử và những hy sinh cao quý đó, và phải giúp con cháu hiểu rõ về nguồn gốc, về lý do tại sao gia đình mình lại hiện diện ở xứ người, để thế hệ con em mới biết trân trọng giá trị của Tự Do hiện tại.  Ngày 30 tháng 4 mãi mãi là một ngày đặc biệt—một ngày để mặc niệm, để rơi lệ, để tưởng nhớ, nhưng cũng để chúng ta tự hào về ý chí quật cường của người Việt xa xứ đã vươn lên làm lại cuộc đời nơi đất khách quê người với hai bàn tay trắng, và tự hào vì 51 năm đã trôi qua nhưng hình ảnh lá cờ vàng ba sọc đỏ vẫn còn tung bay trong không khí Tự Do trong cộng động Người Việt hải ngoại khắp năm châu bốn bể, và hình ảnh những người chiến sĩ hào hùng năm xưa vẫn còn sống mãi trong tâm hồn của những người biết thương đời lính.  

Xin cám ơn đất nước Mỹ và những quốc gia trên thế giới đã mở rộng vòng tay đón nhận chúng ta những người Việt tha hương. Tôi kính gởi lời ghi ơn chân thành nhất đến quý anh quý chú Chiến Sĩ QLVNCH đã hy sinh chiến đấu bảo vệ Miền Nam cho những thế hệ sau được sống trong Tự Do an lành. Xin cám ơn và đừng quên những Thương Phế Binh đã mất một phần thân thể cho Tổ Quốc.  Xin cùng nhau đốt một nén hương ghi ân và tưởng niệm những Vong Linh Chiến Sĩ đã nằm xuống trong cuộc chiến và đã gục ngã trong những lao tù cộng sản vì họ đã chết cho chúng ta được sống.  Xin Đất Mẹ Việt Nam ôm ấp vổ về thân xác của những người con xưa đã đền nợ nước.  Xin tưởng niệm những linh hồn đồng bào ta đã chết trên đường đi tìm bến bờ Tự Do.   Xin hướng về Quê Mẹ và cùng cầu nguyện cho một ngày Việt Nam thực sự có Tự Do, Nhân Quyền, và Công Lý, và cho dân tộc ta được sống trong hạnh phúc ấm no, trong Tự Do Dân Chủ.”

Tiếp đến là phát biểu của Nghị viên thành phố Arlington Phạm Long: Nghị viên thành phố Arlington phát biểu

“Hôm nay, ngày 26 tháng 4 năm 2026 tại Tượng Đài Chiến Sĩ Việt-Mỹ chỉ còn 4 ngày nữa là 30 tháng 4, chúng ta cùng nhau tưởng niệm 51 năm biến cố lịch sử đau thương của dân tộc Việt Nam.

Đây không phải là ngày để nhớ lại quá khứ, mà còn là dịp để chúng ta tri ân và vinh danh những người lính và đồng bào miền Nam Việt nam đã chiến đấu, bảo vệ và hy sinh cho lý tưởng tự do cho dân tộc Việt Nam.

Dù thời gian trôi qua hơn nửa thế kỷ, những mất mát, những hy sinh nhưng ký ức vẫn còn in đậm trong lòng nhiều thế hệ Việt Nam.

Chúng ta tưởng nhớ những người đã nằm xuống trong lao tù cộng sản, những gia đình đã chia ly, mất mát và nhiều người đã vùi sâu nơi biển cả vì hai chữ Tự Do.

Hôm nay chúng a không chỉ tưởng niệm mà còn nhắc nhở nhau về giá trị của Tự Do, lòng dũng cảm và tinh thần kiên cường của người dân miền Nam Việt Nam. Những giá trị đó vẫn sống mãi trong lòng người Việt khắp nơi trên thế giới.

Kính chúc quý vị luôn mạnh khỏe, đoàn kết và tiếp tục gìn giữ, truyền đạt lại những giá trị tốt đẹp này cho các thế hệ mai sau”

Phát biểu Nghị Viên Đắc cử Khu vực 1  thành phố Garland – Jimmy Trần

Nghị viên đắc cử Khu vực 1 thành phố Garland

Kính chào quý ông bà và anh chị em,
Con là Jimmy Tran, Nghị viên đắc cử Thành phố Garland, sẽ tuyên thệ nhậm chức vào ngày 12 tháng 5 sắp tới. Con cũng là con của một sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đến Hoa Kỳ theo diện HO vào năm 1994.
Trước hết, con xin chân thành cảm ơn Bác sĩ Đàng Thiện Hưng cùng Ban Tổ Chức đã thực hiện buổi lễ tưởng niệm 30 Tháng Tư hôm nay một cách trang nghiêm và đầy ý nghĩa.
Con rất vinh dự được tham dự buổi lễ, cùng sự hiện diện của quý vị lãnh đạo tinh thần, cộng đồng và dân cử, trong đó có Ông Nguyễn Văn Tường (cựu Chủ tịch Cộng đồng NVQG Dallas, sáng lập Trung tâm Sinh hoạt NVQG Dallas), Bà Jennifer Nguyễn (thành viên Ủy ban Đa Văn hóa Thành phố Garland), nghệ sĩ Trần Quang, doanh nhân Hồng Lê (SND Manufacturing), và Nghị viên Thành phố Arlington Phạm Long, cùng nhiều quý vị khác.
Hiện con vẫn đang trong giai đoạn học hỏi, nên kính mong quý ông bà và anh chị em tiếp tục đóng góp ý kiến để con có thể hoàn thành tốt vai trò Nghị viên Thành phố Garland, phục vụ cộng đồng ngày càng hiệu quả hơn.
Kính thưa quý vị,
Hôm nay, nhân ngày Tháng Tư Đen 30 Tháng Tư, chúng ta cùng tưởng niệm biến cố Quốc Hận 1975, ngày Sài Gòn thất thủ, khi hàng triệu người Việt Nam mất đi tự do.
Chúng ta tri ân những người đã hy sinh, những người đã rời bỏ quê hương để tìm tự do, và những gia đình đã kiên cường xây dựng lại cuộc đời nơi xứ người.
Biến cố ấy nhắc nhở chúng ta rằng tự do vô cùng quý giá và cần được gìn giữ cho các thế hệ mai sau.
Xin đời đời ghi nhớ.
Xin trân trọng cảm ơn quý vị.”

Chúng tôi được biết cũng có ba vị được ban tổ chức mời lên phát biểu là ông Vũ Đình Hiếu Liên Hội Trưởng Liên Hội Cựu Quân Nhân và Hậu Duệ, bà Hội tưởng Hội Người Việt Cao Niên Trần Thủy Tiên, bà Hoàng Thủy Tân Chủ tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Dallas, tuy nhiên chúng tôi không nhớ lại đầy đủ nên không ghi lại trọn vẹn trong bài tường thuật. Nhưng điều làm nhiều người chú ý và ngạc nhiên khi Liên Hội Trưởng sau khi chấm dứt bài phát biểu của mình lại tuyên bố “khai mạc”. Không biết khai mạc chương trình gì vì Trường ban tổ chức là bác sĩ Đàng Thiện Hưng không phải của Liên Hội Cựu Quân Nhân & Hậu Duệ vừa mới thành lập. Riêng bà Tân Chủ tịch Hoàng Thủy lại xác nhận với đồng hương có mặt trong buổi lễ là từ ý thức cá nhân vì được nghe thông báo từ đài 1160AM mà bà cộng tác. Lời phát biểu ấy không biết ngụ ý gì trong khi mình lại được ban tổ chức mời phát biểu! 

Thầy Thích Quảng Lợi niệm hương trước bàn thờ Tổ Quốc đặt trước Tượng Đài

Trong suy nghĩ riêng, nếu ban tổ chức Thầy Thích Quảng Lợi lên phát biểu sẽ mang nhiều ý nghĩa hơn. Thầy vẫn ngồi hàng ghế đầu với ông bà Nghị viên Phạm Long và ông bà Nguyễn Văn Tường. Bởi vì Thầy muốn tham dự Ngày Quốc Hận cuối cùng trước khi từ biệt các chiến hữu của mình với tuổi đời ngấp nghé 100. Thầy là một cựu Sinh viên Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức khóa 6. Sau nhiều năm trong tù đày Cộng sản, đi tu đến Hoa Kỳ theo diện HO và tiếp tục con đường tu trì nhưng Thầy không thể quên những đồng đội chiến hữu của mình. Không biết phải là lời trối trăng khi tôi đưa Thầy đến Tượng Đài Chiến Sĩ Việt-Mỹ cũng để chia tay với người sống và thắp nén hương cầu nguyện những linh hồn chiến hữu, đồng minh Hoa Kỳ tại Tượng Đài. Một hiện tượng thật buồn; đúng ra những người chuẩn bị dâng hương nên nhường để Thầy thắp nén hương đầu tiên vừa tôn trọng bậc tu hành và cũng là kính lão đắc thọ… nhưng một bà xông vào để được thắp nén hương đầu tiên. Thầy không buồn những gì mà tôi thấy nhiều người bất kính với Thầy. Tôi không biết Thầy nguyện cầu điều gì khi dâng nén hương trước bàn thờ Tổ quốc. Thắp hương xong, chúng tôi đưa Thầy về vì Thầy cảm thấy mệt. 

Trên đường đưa Thầy về nhà Thầy khỏe và vui vẻ cho biết là Thầy có hứa với anh Trưởng vùng Nguyễn Ngọc Chánh trong ngày ra mắt Ban Chấp Hành mới nhưng giờ chót vì Phật Sự Thầy không thể tham dự lần cùng với các đồng môn Thủ Đức như đã hứa và nhờ tôi chuyển lời xin lỗi.

Thầy là tiêu biểu cho hình ảnh người lính miền Nam đều bị xóa bỏ đến cùng cho đến cuối đời trong bộ áo người Thầy tu. Nhưng Thầy không thể quên cuộc đời quân ngũ, nhớ lại ngày đau thương 30 tháng 4 nằm 1975.  Nhớ lại những tượng đài bị giật sập, các nghĩa trang bị cào nát. Bức tượng Thương Tiếc trước Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa hoặc Nghĩa Trang Quân Đội Hạnh Thông Tây Gò Vấp đã bị giật sập và san bằng không còn dấu tích. Thậm chí sách vở và âm nhạc với hình ảnh người lính VNCH trong đó cũng trở thành “văn hóa phẩm độc hại”. Trong khi đó, tại Hoa Kỳ, cuộc chiến Việt Nam đã được soi chiếu lại với nhiều góc nhìn khác nhau. Tuy nhiên, những tài liệu này do người Mỹ thực hiện nên họ chỉ quan tâm đến những gì liên quan đến nước Mỹ hơn là đối với đồng minh cũ của họ ở Nam Việt Nam. Tiêu biểu ngay trong Viện Bảo Tàng Chiến Tranh Quốc Gia Việt Nam tại Weatheford, hình ảnh Tướng Nguyễn Ngọc Loan không phản ảnh đúng sự thật nhưng vẫn giữ nguyên nhiều năm qua. Họ quan tâm đến các chính sách của các đời tổng thống Mỹ liên quan cuộc chiến Việt Nam, hơn là số phận của những người Việt Nam từng cầm súng bảo vệ tiền đồn chống cộng sản. Họ thuật lại những phát biểu của giới chức chính trị và quân sự Mỹ về cuộc chiến Việt Nam, hơn là cho thấy cảm nghĩ lẫn ý chí của những người lính từng là hình ảnh đại diện cho giá trị của tự do. Thầy đã từng nói Thầy thương các chiến hữu, những người còn sống hay đã hy sinh…Thầy rất xúc động được biết bác sĩ Đàng Thiện Hưng và phu nhân đã có mặt từ 8 giờ sáng tự vác các bàn nặng từ ngoài vào trong cho đến 3 giờ 30 chiều thu dọn sạch sẽ trước khi ra về…

Tiễn Thầy Thích Quảng Lợi ra về sau khi thắp nén hương giã từ tại Tượng Đài Chiến Sĩ Việt-Mỹ

Xin ơn cảm Thầy đã cho con làm trọn với hứa. Kính chúc Thầy sức khỏe bình an đạt tuổi thọ cao nhất…

Thái Hóa Lộc  

Next
Next

CHÙA ĐẠO QUANG TƯỞNG NIỆM 51 NĂM QUỐC HẬN