Một Chuyến Đi Thái 19/5/2001


(Bài viết cũ, đăng lại để tặng những ân nhân trong chuyến đi thăm người tù Lý Tống tại Thái Lan)

Trương Sĩ Lương

Sau những chuyến đi về như con thoi Dallas - Bangkok đầy bận rộn, mệt mỏi của anh Võ Văn Ân, lần này tôi quyết định thu xếp công việc hằng tuần cũng khá bận rộn để tháp tùng anh Ân lên đường một chuyến cho trọn tình với anh em. Biết đi, công việc sẽ ứ đọng, vì đi về tối thiểu cũng phải mất một tuần. Một tuần mà vắng mặt thì tờ báo số tới e không kịp lên khuôn.

Phải thành thật mà nói, nếu anh Ân không bán được nhà hàng của anh (Bamboo) tại thành phố Arlington, Texas vào cuối tháng 9 năm 2000 thì làm sao có thể rảnh thì giờ mà bay qua Thái Lan để lo cho Lý Tống từ ngày anh bị “nằm ấp” cho đến giờ! Âu cũng là nhân duyên giữa tình chiến hữu, tình thầy trò. Lý Tống có một cấp chỉ huy cũ mà anh thường gọi “Sư Phụ” như anh Ân, quả thật hiếm có trên đời.

Ở xứ người ai cũng bận rộn cho việc mưu sinh, nghỉ một tháng không lương, tiền bills đến không kịp thở. Tiền bills mà không thanh toán kịp thì coi như đi đời! Những ngày anh Ân ở Thái Lan ra vào nhà tù, nhà thương để chăm sóc cho Lý Tống thật không phải là chuyện dễ dàng. Nào là phương tiện di chuyển, trú ngụ; nào là tiêu pha lặt vặt; điện thoại viễn liên phải xử dụng hằng ngày v.v... Thế mà anh đã tiện tặn để vượt qua những khó khăn trên đất Thái quả là một điểm son đáng ghi nhận.

Anh em thân hữu và thân nhân Lý Tống có đóng góp tiền đường cho những chuyến đi của anh, nhưng sự đóng góp có giới hạn vì mỗi người đều có trách nhiệm gia đình và đời sống riêng tư. Sự hy sinh về vật chất, thời gian đã đành, còn phải bận bịu về tinh thần, người này nói vào, người kia nói ra... rằng thì là... mới là vấn đề đáng bực mình. Mỗi lần tôi bực mình vì những lời nói thiếu tế nhị của một vài người nào đó... thì anh Ân lại cười để tôi vui. Anh luôn luôn trầm tĩnh, nếu không muốn nói là tỉnh bơ như “hiệp sĩ mù nghe kiếm gió": “Tao chỉ biết lo cho thằng em, ai thắc mắc cái... gì thì cứ gặp tao”.

Quả thật những anh em xa gần của chúng tôi đóng góp tài chánh cho anh Ân thực hiện những chuyến đi Thái chẳng ai thắc mắc cả. Có chăng chỉ là bàn dân thiên hạ, ngồi lê đôi mách khi trà dư tửu hậu, hoặc vì đố kỵ, hoặc vì những lý do thấp hèn khác. Chính những người này có thể chẳng bao giờ đóng góp một tí công của nào cho những sinh hoạt của tập thể người Việt, nhưng bàn bạc chuyện người ta, bàn vô, bàn ra, bàn tới, bàn lui, chỉ trích, bươi móc… thì bao giờ cũng mạnh miệng hơn ai cả.

Tôi nhập đề cho bài viết này hơi dài. Chắc chắn có người sẽ lên cơn cho rằng “anh em ca tụng nhau”, nhưng tôi nghĩ sự thật, nếu không có anh Ân — thay mặt những anh em thân tình với Lý Tống — lặn lội, đội đường nửa vòng trái đất, chăm sóc cho người hùng trong những ngày thập tử nhất sinh trên giường bệnh thì không biết giờ này Lý Tống còn hơi thở để ra tòa hay không?

ĐƯỜNG DÀI VẠN DẶM

Đúng sáu giờ chiều thứ Sáu 18-5-2001, sau khi đã thi hành xong bổn phận “giám đốc phân phối” mấy ngàn tờ báo ở Dallas và các vùng phụ cận, tôi chạy như bay trở về để kịp ra phi trường DFW với anh Ân. Về tới tòa soạn là đã thấy Hàn Thanh Giang và bác Liên — cũng vừa “thanh toán” xong mấy ngàn tờ báo ở vùng Fort Worth và Arlington — hối thúc tôi lên đường.

Điện thoại reo. Anh Ân bên kia đường dây:

— Sẵn sàng chưa, tao lại đón mày?

— Xong rồi, nhưng đói bụng quá! Chưa ăn trưa, chưa ăn chiều!

— Tao đem gói mì cho mà đớp. Lý Tống tuyệt thực hơn 4 tháng rồi mà nó có chết đâu mày?

Tôi cười ngất về cái lý luận tếu của anh:

— Thôi được rồi.

Năm phút sau anh Ân tới, quả thật có gói mì gói trên tay. Tôi cằn nhằn:

— Nấu mì mất 5 phút, cho vào miệng cũng mất thêm 5 phút thì làm sao kịp chuyến bay? Thôi nhịn luôn, lên máy bay mấy cô chiêu đãi viên cho ăn cũng được.

Tới phi trường, gửi xong hành lý là vào cổng kiểm soát ngay. Từ cổng vào tới cửa boarding khá xa. Cơn đói bụng bắt đầu hoành hành, lại phải vác theo cái xách máy hình và cái computer laptop nặng ơi là nặng, tôi mới thấy ân hận là tại sao không gửi nó theo vali hành lý cho khỏe cái thân già.

Ngồi trên máy bay, sau khi được một bụng no nê mới lôi cái laptop ra làm việc lặt vặt cho tờ báo, khỏi bỏ phí thì giờ mấy chục tiếng trên máy bay cũng đáng giá. Thì ra đèo theo cái cục nặng nề này cũng không phí sức.

Thì giờ qua nhanh, mới đó mà đã hơn 3 tiếng đồng hồ. Tiếng chàng trưởng phi cơ thông báo sửa soạn thắt lại dây an toàn để hạ cánh. Thành phố Los Angeles bắt đầu lên đèn hiện rõ qua cửa kính.

Xuống phi trường Los, anh Ân và tôi tà tà ra khỏi terminal. Tôi hỏi khích:

— Mình đi đâu bây giờ vậy? Đi Thái 4 chuyến rồi mà không rành đường hà?

— Thì cứ theo tao.

Lại cuốc bộ từ cổng phi trường nội địa qua terminal quốc tế, lên cầu thang rồi xuống cầu thang. Bên ngoài, trời Cali bắt đầu tối, khí hậu dịu mát sau buổi chiều nắng tắt làm tôi cảm thấy dễ chịu. Nhưng quang cảnh người tới kẻ đi tấp nập trước phi trường cũng làm tôi hoa mắt. Cái xách máy hình và laptop bây giờ thì nặng thật. Tôi than thở với anh Ân:

— Nặng bỏ mẹ mà cuốc bộ như thế này thì lết hết nổi rồi! Ngồi một chút cho tôi châm điếu thuốc phì phà mấy khói lấy sức rồi hẵng đi.

— Đưa cái laptop tao xách cho! Tao bảo bỏ phứt thuốc lá cho khỏe, vậy mà cứ phì phà hoài!

Tôi lại than:

— Không biết từ đây qua Đài Bắc, rồi qua Thái hơn 20 tiếng đồng hồ nữa, biết có nhịn được hút không đây!

Đến cổng phi trường quốc tế, trời sập tối. Tôi nhìn đồng hồ mới 9 giờ tối giờ Cali. Một giờ sáng máy bay hãng China Airline mới cất cánh đi Đài Bắc. Bây giờ ngồi làm gì cho hết giờ! Anh Ân đề nghị ra ngoài hút thuốc tiếp, charge cái laptop cho đầy bình điện và ngồi chờ anh Từ Đức Tài (tiểu bang Origon) và nhà báo Lê Thành Quang (Philadelphia) bay xuống rồi vào ghi tên ngồi bên cạnh nhau để bàn chuyện phân chia công việc, lịch trình khi đến Thái Lan.

Một giờ sau, một người đàn ông Việt Nam trạc ngoài 60 tiến vào cổng, nhìn quanh quẩn như muốn kiếm người. Tôi hỏi ngay:

— Anh là anh Tài?

— Vâng! Anh là TSL. Còn anh là ĐT Ân? Nói chuyện qua điện thoại nhiều lần, nhưng nay mới gặp.

— Nếu người hùng Lý Tống không ở tù thì làm sao mình có dịp gặp gỡ phải không anh?

— Đúng vậy! Nhân duyên mà!

Chúng tôi bắt tay nhau và chuyện trò thân mật ngay. Những chuyện sinh hoạt của các Ủy Ban YTTTLT tại địa phương; những ưu tư về Lý Tống; Hòa Thượng Thích Quảng Độ; LM Nguyễn Văn Lý và tình hình đất nước được mang ra bàn thảo. VC đang lún sâu vào việc đàn áp tôn giáo ở quê nhà. Đúng như Lý Tống thường nói: “Bọn đầu gấu Bắc Bộ Phủ đã hết thời. Chúng ta chỉ cần đoàn kết đẩy mạnh chiến dịch nổi lửa, tác động tinh thần quật khởi của người dân trong nước là có thể lật đổ được chế độ CSVN”.

 

Một giờ sau, Lê Thành Quang lù lù xuất hiện với máy ảnh và suitcase nhỏ gọn trên tay. Tôi mừng ra mặt:

— Phi trường lớn quá, sợ mình lạc nhau, ghi tên tùm lum rồi không ngồi gần nhau được trên chuyến bay xuyên đại dương thì chán lắm!

Anh Quang lên giọng tự tin:

— Anh Ân đã 4 lần đi thăm nuôi Lý Tống, còn tui lần này là lần thứ hai thì làm sao mà lạc nhau được. Chỉ khổ là đi từ 5 giờ chiều giờ Philadelphia mà chừ mới tới. Ngồi trên máy bay cứ nóng lòng gặp các anh nên thời gian cứ thế mà dài thườn ra!

Tôi ôm Quang và khen dạo này anh có da thịt, so với năm ngoái gặp nhau tại Philadelphia. Anh liến tháo qua tiếng Huế:

— Phải rán tập thể thao, đi bộ, ăn nhiều mới có chút thịt thà mà lo cho Lý Tống chớ răng!

Anh Ân, anh Tài cũng mừng rỡ khi gặp anh Quang. Chúng tôi lại tiếp tục hút thuốc lá và bàn chuyện thời sự ở quê nhà, bàn chuyện cộng đồng, chuyện thăm nuôi Lý Tống. Người bạn Thái Lan (của nhóm thân hữu Lý Tống) tên là Som-mai thường ra vào thăm nuôi, gần đây cho biết chế độ nhà tù đã và đang khắt khe hơn trước. Thăm nuôi mỗi tuần chỉ được hai lần, thức uống như nước trái cây và đậu nành tiếp tế cho Lý Tống cũng bị giới hạn. Có lẽ sau phiên tòa ngày 24-4 với thái độ hiên ngang của anh đã làm cho chính phủ Thái bực mình chăng? Hay là nhiều phái đoàn người Việt từ khắp nơi đến thăm anh, nên họ đã đổi chính sách khó khăn hơn? E họ tưởng cộng đồng người Việt giàu có nên cố ý làm khó để moi tiền đút lót cũng không chừng?

Đang bàn thảo đến nhiều vấn đề cho chương trình đi thăm Lý Tống vào sáng thứ Hai thì anh Ân nhắc vào sắp hàng để ghi danh đi Đài Bắc. Ghi danh xong, chúng tôi tà tà vào cổng China Airline để sửa soạn lên máy bay. Cửa máy bay rộn ràng đủ thứ sắc dân, kẻ đứng người ngồi chuyện trò ồn ào.

Đứng bên cạnh anh Quang là hai người phụ nữ người Việt sồn sồn tươi cười gợi chuyện:

— Các anh đi Việt Nam?

— Dạ không, đi Bangkok.

— Chắc là các anh đi về vụ anh Lý Tống?

— Sao chị biết?

— Tôi đoán mò.

Anh Quang gật đầu. Tôi bấm vào tay anh Quang để nhắc nhở anh dè dặt. Người đàn bà trẻ (có nhan sắc) tiếp lời:

— Tụi em ở Santa Anna theo dõi chuyện anh hùng Lý Tống hằng ngày. Chúng em cũng có ủng hộ quỹ vận động tài chánh cho anh, nhưng nghe lộn xộn quá! Người này chỉ trích, người kia phe nhóm này nọ làm tụi em không biết tin vào ai?

Anh Ân quay người lại và lắng nghe. Người đàn bà lớn hơn lên tiếng:

— Các anh hãy cố gắng lo chạy chọt làm sao cho người anh hùng có một không hai của chúng ta, chứ để anh Tống ở lâu trong tù chúng tôi sốt ruột quá!

— Vâng, chúng tôi cũng đang lo đây, nhưng vấn đề còn gút mắc nhiều quá! Vả lại, bây giờ là vấn đề đối đầu với pháp luật của xứ Thái Lan, chứ làm sao mà chạy chọt được!

— Không biết anh Tống tuyệt thực lâu ngày như vậy có chịu nổi hay không? Làm sao khuyên được anh ngưng tuyệt thực để còn sức khỏe mà đấu tranh thì có hay hơn không các anh?

— Chúng tôi xin ghi nhận ý kiến của các chị, nhưng tuyệt thực là một chiêu thức mà Lý Tống cho đó là một thế công tuyệt vời.

Thấy hai người đàn bà có vẻ thành thật khi gợi chuyện, nhưng anh Ân vẫn dè dặt trong lúc đối thoại, tôi xen vào và chuyển đề tài ngay:

— Các chị đi Việt Nam bao giờ mới về lại?

— Chúng tôi về thăm ông cụ đau nặng, chắc là ba tuần sau mới về.

Nửa giờ sau chúng tôi lên phi cơ. Chiếc 747 quả thật lớn như một building hai tầng. Vào bên trong phi cơ là đã thấy những cô tiếp viên xinh như búp bê, phục sức với màu tím hoa cà, đứng đón khách, hướng dẫn từng người vào số ghế ngồi. Phái đoàn chúng tôi gồm 4 mạng, lại mua vé hạng bét (economy) nên chỗ ngồi hơi chật chội. Tôi tự lý luận để an ủi: “Lý Tống nằm ngồi trong tù không yên, chân tay bị cùm xích đêm ngày, mình rán một ngày thì có sao đâu”.

Đúng 1 giờ 30 (giờ Cali) máy bay tiến ra phi đạo, gầm gừ, tăng vận tốc rồi cất cánh một cách nặng nề lên không. Tôi lại nghĩ cái tòa lâu đài chở hơn 400 mạng người và đồ đạc, cộng với sức nặng của chiếc máy bay thế mà “đằng vân” như chơi, thật đáng khâm phục trí óc tinh khôn của loài người.

Qua cửa kiếng, ánh sáng hoa đăng của thành phố Los Angeles càng lúc càng xa. Máy bay trực chỉ hướng Thái Bình Dương. Tôi hỏi anh Ân:

— Theo anh - người từng lái phản lực cơ - giữa việc cất cánh, bay và đáp, cái trò nào nguy hiểm nhất cho một chuyến bay?

— Lúc cất cánh là nguy nhất.

— Như vậy là xong rồi, ngày mai mình tới Đài Bắc an toàn phải không?

Anh Ân cười. Tôi rộn ràng với một niềm vui nho nhỏ lớn dậy trong lòng“Mình sắp được gặp Lý Tống để nói tận mặt những chuyện cần nói. Sắp được đặt chân trở lại vùng đất Á Châu sau hơn 26 năm trời xa cách”.

Khoảng 15 phút sau, khi máy bay đạt tới cao độ 35 ngàn bộ, mấy cô tiếp viên bắt đầu cho nước uống và thức ăn. Chúng tôi cũng cảm thấy đói nên nhận đồ ăn, đúng ra là ăn khuya vì giờ này là giờ ngủ. Ăn xong, ai nấy tắt đèn để dỗ giấc ngủ. Riêng tôi và anh Quang vẫn bàn chuyện ngày mai, chuyện thế thái nhân tình.

Ba tiếng đồng hồ đi qua... rồi nhiều tiếng dài lê thê cũng qua. Tôi nhìn đồng hồ: “Bây giờ là 9 giờ sáng thứ Bảy, giờ Texas, mình phải ngủ một chút, nếu không sẽ bịnh khi xuống Đài Bắc”. Ghế ngồi chật chội, muốn nhúc nhích cũng khó khăn. Tôi bắt đầu cảm thấy máu đang dồn xuống đôi bàn chân. Đúng rồi, chân tôi đang tê cứng và sưng vù lên. Tôi đánh thức anh Ân dậy cho tôi đi ra cầu vệ sinh. Tôi bắt đầu đi một vòng quanh những hàng ghế, làm vài động tác co giãn cho máu điều hòa. Quay trở lại ghế ngồi, vẫn không ngủ được. Tôi lấy cuốn sách của một bạn văn vừa tặng và đọc hết một mạch. Mấy cô tiếp viên cũng vừa thức dậy, bật đèn và mang thức ăn sáng cho mọi người. Tôi thức anh em dậy ăn, uống cà phê và tán dóc, tính giờ giấc sai biệt khi đến Đài Bắc. Như vậy là tôi không ngủ được tí nào sau hơn 12 giờ bay, mặt mày xơ xác và người thì say say, chóng mặt. Tôi lại nhớ tới điếu thuốc khi hớp một ngụm cà-phê nóng.

Anh Quang cũng thèm thuốc nên ngáp dài:

— Không ngủ được à? Sắp hạ cánh chưa?

— Còn 45 phút lê thê nữa!

— Xuống phi trường Đài Bắc có chỗ phì phà mà!

Đúng 30 phút sau, tiếng người phi công thông báo sửa soạn hạ cánh bằng tiếng Tàu và tiếng Anh. Tôi mừng vì sắp được xuống đất và nhất là được hút thuốc. Tôi lại tự trách mình là đã cố gắng bỏ thuốc năm lần bảy lượt nhưng rồi vẫn hút lại. Nếu hồi còn trẻ không bị bạn bè rủ rê phì phà thì đâu có khổ như thế này!

Máy bay tà tà đáp xuống phi đạo khi bình minh vừa ló dạng. Hành trình của chuyến bay khá đúng giờ: 6:05 phút sáng Chủ Nhật, giờ Đài Bắc. Tôi nhìn qua cửa sổ thấy quang cảnh dân cư với những mái ngói màu đỏ tía, bao bọc bởi những hàng cây xanh, ruộng đồng, lòng tôi lại lâng lâng như đang trở lại quê nhà.

Xuống phi cơ, người tôi như vừa trải qua một cơn bệnh. Anh Quang lại giục đi nhanh ra phòng hút thuốc. Anh Tài cũng đi theo nhập cuộc. Điếu thuốc đầu tiên sau gần một ngày nhịn thèm, lại không ngủ, đã làm tôi xây xẩm mặt mày. Hút xong điếu thuốc, anh Ân lại bày đi tới mấy quầy hàng bán đồ miễn thuế mua thêm thuốc lá và tìm quầy hàng uống nước. Tôi muốn ngồi bệt xuống một nơi nào đó vì cơn buồn ngủ đang ập tới, nhưng anh em lại giục đi tới cửa phi cơ để đi Thái Lan.

Đến cửa phi cơ phải ngồi chờ thêm 2 giờ nữa mới đi Thái Lan. Tôi thiếp đi trên băng ghế lúc nào cũng không hay. Tiếng ồn ào của hành khách, tiếng thông báo “boarding” của cô nhân viên hàng không làm tôi tỉnh người.

Lại lên phi cơ, lần này được ngồi trên chiếc Airbus A300-600 cũng to lớn gần bằng chiếc Boeing 747. Anh Ân đề nghị tôi ngồi ngay cửa sổ để nhìn thành phố Đà Nẵng trên tuyến bay từ Đài Bắc qua Thái. Tôi hồi hộp ngồi chờ. Lại không ngủ được, lòng rộn ràng muốn nhìn thấy quê hương.

Anh Ân lên tiếng:

— Ngủ đi! Khi nào máy bay bay ngang qua Việt Nam, nếu trời trong tao sẽ thức mày dậy nhìn xuống thành phố Đà Nẵng.

— Tôi thức luôn, sợ ngủ sẽ không dậy được.

Anh Ân lại mộng mơ:

— Tao ước gì khi bay ngang qua bờ biển Nam Hải, máy bay nó bị trục trặc sao đó, phải hạ cánh ở phi trường Đà Nẵng, anh em mình sẽ được ở một đêm trên quê hương Việt Nam bất ngờ thì khoái biết mấy hè.

— Trục trặc thì chết tiêu cả đám chứ làm sao mà đáp xuống Đà Nẵng được. Phi trường nhỏ xíu mà chiếc máy bay tổ bự như thế này thì e lọt ra ngoài phi đạo.

Tuy ý tưởng mang đầy tính chất mộng mơ, nhưng cũng nói lên được tâm trạng nhớ nước, thương nhà đang trỗi dậy và có lẽ đang dằn vặt trong lòng anh.

Hơn 26 năm rồi, quen nhau từ những năm đầu định cư tại thành phố New Orleans, rồi lại đèo nhau qua Dallas, Texas, chúng tôi đã trở thành anh em thân tình hồi nào cũng chẳng hay. Buồn vui, khổ lụy, lên voi, xuống chó trong suốt con đường lưu lạc xứ người đều có nhau. Thật ra, anh em ruột thịt cũng không rành “sáu câu” như chúng tôi hiểu nhau từ tận đáy lòng của mỗi tâm hồn.

Khoảng gần 2 giờ bay, anh Ân dẫn tôi đi vòng qua các băng ghế bỏ trống gần cửa sổ để nhìn xuống đất theo hướng bay tới của phi cơ:

— Trời bữa nay trong xanh, chắc chắn mình sẽ thấy toàn bộ thành phố Đà Nẵng. Lại đây nè! Đó. Đà Nẵng đó!

Tôi mừng quá! Đúng rồi, bờ biển và thành phố Đà Nẵng đang thu nhỏ trong lòng bàn tay. Trời trong, từ trên cao nhìn xuống, khoảng hơn 10 cây số theo chiều cao, quê hương tôi đó, nhưng vẫn nghìn trùng xa cách! Qua cửa kiếng lòng tôi rộn ràng như muốn bay xuống để được tận mắt nhìn thấy quê nhà. Đà Nẵng, tôi đã sống ở đó một thời gian vào giữa thập niên 60. Những kỷ niệm êm đềm của tuổi đầu đời lại trở về chất ngất trong tôi: đau khổ, hạnh phúc, muộn phiền lẫn lộn. Những giọt nước mắt thấm xuống cay cay sau đôi kính già. Khóc được à? Quê hương còn đó mà! Thế nào cũng có một ngày về... Anh Ân lại trầm ngâm không nói nên lời. Chắc anh ấy cũng cùng có tâm trạng như tôi. Đà Nẵng càng lúc càng xa, bờ biển cũng mất dần trên cửa kiếng. Máy bay tiến vào lục địa, chỉ còn rừng với rừng.

Tôi ngồi xuống ghế lòng buồn bã như vừa đánh mất một cái gì thân nhất trên cõi đời này. Thì ra, quê hương đã thắt buộc với con người của tôi như thế. Thì ra, quê hương đã cuốn hút tôi đến thế! Nghĩ cho cùng, có ai trong chúng ta bỏ nước ra đi vì hoàn cảnh bắt buộc mà không nhớ tới quê nhà.

Tôi vẫn nhìn ra xa giữa khoảng không gian mênh mông vô tận, ước gì máy bay chậm lại cho tôi được nhìn thêm. Thôi, xin vẫy tay chào tạm biệt quê hương một lần nữa:

“Đứng bên này bờ biển đại dương,

“Nhìn chẳng thấy quê hương chỗ nào

“Mà chỉ thấy con tim rạt rào

Giọt nước mắt lưu vong chợt trào.

“Tạm biệt tổ quốc thân yêu của tôi.

 

(Ca khúc của NS Châu Đ An)

BẢY NGÀY TRÊN ĐẤT THÁI

Sau những chuyến bay dài giờ, chúng tôi đến đất Thái vào lúc 2 giờ chiều ngày Chủ Nhật 20-5-2001. Làm xong thủ tục nhập cảnh, đổi một ít tiền dollar ra tiền Baht, chúng tôi đón xe taxi về khách sạn Raja nơi anh Ân thường ở trước đây. Thành phố Bangkok với xa lộ chằng chịt, đồ sộ, xe cộ đủ loại đầy đường phố, không thua kém các thành phố văn minh khác trên thế giới. Những tòa cao ốc mang bảng hiệu quảng cáo bằng tiếng Thái-Anh giống hệt như các thành phố ở Mỹ. Trên đường về khách sạn, tôi thấy vài building chọc trời đang xây cất dang dở ở vòng đai thành phố. Nghe nói mấy năm rồi mà vẫn chưa hoàn tất vì bị ảnh hưởng bởi vụ thị trường chứng khoán phá sản vào những năm trước.

Hai chiếc taxi chở chúng tôi rời khỏi vòng đai xa lộ, rẽ vào một đường phố nhỏ, chạy chậm vì phải tránh né người lui kẻ tới tấp nập ngay bên đường. Nhìn cảnh sinh hoạt rộn ràng của cư dân địa phương làm tôi phải moi trí nhớ để xem thử khu này giống nơi nào ở Saigòn trước đây. Nào xe honda, suzuki, xe lam, xe ba-gát, xe thồ đủ loại, đủ kiểu chạy rầm rầm, khói phun nghi ngút làm tôi hoa mắt. Ô! Tôi nhớ ra rồi, khu phố này y hệt như Khu Dân Sinh của Saigon trước đây.

Bước xuống Taxi là đã thấy nóng nực khó chịu. Có lẽ vì độ ẩm quá nhiều nên cả người ướt đẫm mồ hôi. Chúng tôi vào ngay khách sạn, lấy hai phòng, mỗi đêm khoảng 12 đô-la. Anh Ân và anh Tài một phòng, Quang và tôi một.

Sau một giấc ngủ ngắn, dật dừ, người như lâng lâng vì khí hậu khác biệt, phần trong lòng cũng rộn ràng khi đến xứ lạ, mà lại hơi giống Saigon ngày xưa, tôi ngồi phắt dậy gọi anh Quang, rủ anh Ân, Tài đi ăn cơm chiều.

Chúng tôi lội bộ ra đường cái, nhìn cảnh mua bán, hàng quán hai bên lề đường vui mắt làm tôi nhớ tới quê nhà đến thắt ruột. Chỗ này có quán cá nướng, chỗ kia có thịt nướng, khói bốc lên thơm phức từ những lò than... Tôi đề nghị nên ngồi ăn đại bữa cơm chiều rồi lên khách sạn ngủ tiếp tục cho lại sức để ngay mai còn thuê xe, vượt 300 cây số đến tỉnh Rayong thăm Lý Tống. Thế nhưng anh Ân đã lỡ hẹn với hai người bạn Thái Lan ở một nhà hàng seafood đâu đó, nên tôi đành phải nhịn thèm theo các anh đón taxi tìm đường tới nhà hàng Seafood.

Cả bốn mạng ngồi lên chiếc taxi nho nhỏ. Anh tài xế trẻ măng, khoảng ngoài 20 tuổi, da ngăm đen, miệng luôn luôn cười và gật đầu vì không nói được tiếng Anh. Anh Ân nói tên nhà hàng mà chúng tôi cần đến, anh taxi lại gật đầu. Thế rồi anh phóng như bay tới nhà hàng này, qua nhà hàng khác mà vẫn không đúng địa điểm anh Ân đã hẹn với hai người bạn Thái.

Tôi ngồi ghế trước, anh taxi thì cứ chạy ào ào, rẽ phải, quẹo trái giữa rừng xe cộ chi chít làm tôi có cảm tưởng như xe sắp đâm đầu vào xe khác. Tài xế ngồi bên phải — dân Thái Lan lái xe chạy lane trái như bên Anh quốc— tôi lại không quen ngồi bên trái nên mỗi lần xe quẹo phải là tôi lên ruột vì cứ sợ đâm vào xe ngược chiều đang quẹo qua. Ôi! Ông bạn trẻ ơi! Ông mà cứ như thế này thì trái tim già của tôi nó ngừng đập ngay!

Tôi đề nghị anh Ân gọi ngay cho người bạn Thái (có tên Bigman) để chỉ đường cho anh Taxi. Anh Ân gọi liền và trao phone cầm tay cho anh Taxi. Xe ngừng lại bên lề đường, anh Taxi nói tiếng Thái “cà ra xì ná chểu” với anh Bigman một hồi lâu rồi cúp. Tôi vui vẻ vỗ vào vai anh Taxi: “You biết?”. Anh lại gật đầu. Chúng tôi an tâm là anh đã biết đường tới nhà hàng vì ai cũng đói muốn lả người. Nhưng ai nào ngờ, anh Taxi lại lòng vòng trên đường phố hơn nửa giờ sau vẫn tìm không ra cái tên nhà hàng kỳ quái mà anh Ân đã hẹn.

Anh Quang nãy giờ bồn chồn ruột gan, nhưng im lặng. Bỗng anh nổi cáu chửi thề anh Taxi ngơ ngáo bằng tiếng Việt. Biết chửi thì chỉ phe mình nghe, nhưng anh vẫn chửi cho hả giận. Trời chạng vạng tối và cơn mưa giông bất chợt trút như thác nước đổ xuống mù mịt đất trời không còn thấy đường đi. Tôi đề nghị nên vào khu thương xá nào đó rồi thông báo cho anh Bigman đến đón là hay nhất.

Chúng tôi ra dấu cho anh Taxi tấp vào khu thương xá Siam. Anh ngừng xe, miệng vẫn tươi cười. Chúng tôi cứ nghĩ là sẽ bị chàng ta chém đẹp vì hơn một tiếng đồng hồ chạy lòng vòng. Ai ngờ anh chỉ lấy 100 Baht (khoảng $2.đô). Chúng tôi trả tiền, tặng luôn 50 Baht tiền típ rồi chạy trốn mưa vào khu thương xá Siam.

Vào tới lầu ba là một khu bán fastfood Thái Lan, y như các khu bán thức ăn fastfood của Mỹ, chỉ có khác là mùi gia vị đặc biệt và chất cay cay của dân Thái khá nồng xông lên mũi. Chúng tôi đang đói, nhưng phải làm một vòng để chọn thức ăn. Quầy này bán vịt, bán gà, quầy kia bán đồ biển theo kiểu tả-pí-lù, quầy nọ đủ thứ bò, heo và nhiều món lạ hoắc. Tôi móc một mớ tiền Baht ra, anh Quang tiến lại quầy cơm gà xối mỡ. Nói tiếng Anh thì họ không hiểu, đành chỉ đại. Một hai ba bốn lấy hết, chặt hết con gà đang treo, lấy luôn bộ lòng. Cô bán hàng cười ngất, nhưng cũng làm theo ngón tay chỉ lung tung của anh Quang. Tôi không nhịn được cười với cái tếu của anh ấy. Tôi hỏi bao nhiêu? Cô bán hàng lắc đầu ú ớ không nhận tiền. Anh Quang thắc mắc: “Ủa sao không nhận tiền? Bộ muốn dollar chăng?” Cô chỉ tay vào đống coupon. Tôi hiểu ý. Cô chỉ nhận coupon và bảo tôi đến quầy mua coupon. Tôi chạy đi mua một mớ coupon về, trao cho cô bán hàng. Cô cười gật đầu. Chúng tôi hiểu nhau mà. Người câm còn hiểu được huống gì chúng tôi còn ngón ra dấu khá nhà nghề! Ồ! Rẻ rề, 4 phần ăn chưa đầy 300 Baht. Tôi đến quầy mua nước cũng bằng coupon. Vừa đói vừa khát, chúng tôi ăn hết 4 đĩa cơm gà xối mỡ và uống luôn 4 ly nước dừa cỡ bự. Lại sực nhớ. Chết rồi, tôi đã uống nước đá với nước dừa. Trong nước đá chắc chắn thế nào cũng có vi khuẩn của vùng nhiệt đới. Sống trên 25 năm khác vùng, kháng độc tố đã yếu, hoặc chống không nổi vi khuẩn lạ, hoặc không còn thích hợp với vùng nhiệt đới, thế nào cũng bị đau bụng tối nay khi về lại khách sạn.

Chúng tôi vừa ăn xong, ngồi nhìn quanh khu thương xá thì hai người Thái bạn của anh Ân xuất hiện. Anh Ân giới thiệu:

— Đây là anh Bigman, một trong những người đã giúp đỡ tôi và Lý Tống rất nhiều. Và đây là cô Son-mai, người tiếp tế thức uống sinh tố, nước đậu nành hằng ngày cho Lý Tống từ khi anh còn nằm ở nhà thương.

Anh Tài và tôi đứng dậy bắt tay cám ơn sự giúp đỡ của hai người đối với Lý Tống. Còn anh Quang thì đã quen họ từ chuyến trước nên gặp là tay bắt mặt mừng lộ vẻ thân tình. Cô Son-mai người trông nhanh nhẹn, chỉ nói tiếng Thái; còn anh Bigman thì quả thật là bigman. Anh to lớn, mập mạp khoảng gần 400 lbs, nói và hiểu được tiếng Anh.

Đúng là “hữu duyên thiên lý năng tương ngộ”. Chúng tôi vì cơ duyên mà gặp nhau, cách nhau một nửa trái đất mà thình lình tương ngộ. Chỉ qua vài câu đối thoại, dù không hiểu hết nghĩa của nhau, nhưng cảm thấy dường như đã gần gũi quen thân, hoặc đã từng gặp nhau đâu đó từ lâu rồi.

Tôi chợt nghĩ: chính quyền Thái Lan bỏ tù anh hùng Lý Tống của chúng ta, xiềng xích anh tàn bạo vì luật lệ khắt khe, hoặc vì thế lực chính trị, ngoại giao ràng buộc từ phía CSVN, nhưng cũng có rất nhiều người dân Thái hiểu và thương mến anh Tống. Chính họ là những người sát cánh với anh Ân trong những ngày thăm nuôi Lý Tống trên đất Thái. Chính họ cũng là những người thay thế anh Ân lo cho Lý Tống khi anh vắng mặt phải về lại đất Mỹ. Đúng là ở đâu cũng có người tâm Phật. Thái Lan là xứ Phật, chắc chắn phải có nhiều người tâm Phật hơn xứ khác. Tôi nói với anh Bigman và nhờ anh thông ngôn lại cho cô Son-mai như thế. Cô chắp tay vái vái theo phong tục của người Thái. “Xin cám ơn cô đã mở rộng lòng từ bi. Xin cám ơn anh Bigman đã mang trái tim bồ tát đến giúp người anh hùng đang gặp hoạn nạn”.

Chúng tôi chia tay với hai người bạn Thái sau khi chụp vài tấm hình lưu niệm. Hẹn sẽ gặp lại vào sáng thứ Ba 22-5 tại tỉnh Rayong, ngay phiên tòa xử anh Lý Tống. Chúng tôi về lại khách sạn vì ai cũng vừa mệt, vừa buồn ngủ.

Khoảng 5 giờ sáng sớm thứ Hai 21-5, chúng tôi thức dậy uống cà phê và sửa soạn lên đường đi tỉnh Rayong để vào nhà tù thăm Lý Tống.

Thuê được chiếc Mini Van tại khách sạn với giá 3000 Baht, lại có thêm Quỳnh Như và ông Võ Khôi tháp tùng, chúng tôi bắt tay nhau, tự giới thiệu và lên đường ngay cho kịp giờ thăm Lý Tống.

Xa lộ nối liền Bangkok và tỉnh Rayong cũng y như xa lộ hiện đại ở Mỹ, chỉ có khác là phong cảnh làng mạc tuyệt đẹp như Việt Nam ngày xưa vào những năm thanh bình. Cách lề xa lộ năm mười thước là những hàng dừa tươi tốt và các loại cây ăn trái sum suê nhìn thấy thèm. Nhờ tài ngoại giao khéo léo của hoàng gia Thái mà trên 100 năm nay đất nước họ được sống thanh bình và xây dựng không ngưng nghỉ nên tiến bộ thấy rõ. Đời sống người dân ở thôn quê tương đối không được sung túc như các nước Âu Mỹ, nhưng so với các nước láng giềng như Cao Miên, Việt Nam thì họ đã bỏ xa một trời một vực.

Khoảng một giờ đồng hồ phom phom trên xa lộ, anh tài xe Van dừng lại ở một trạm xăng bên xa lộ. Trạm xăng khang trang đẹp đẽ, cũng là “Rest Area" để cho khách qua đường làm vệ sinh. Phương tiện thiết trí không khác những cây xăng tại Mỹ. Chúng tôi vào quan sát những món hàng trong tiệm chạp phô: cũng báo chí nội địa, nhập cảng, cũng nước ngọt, bia rượu nổi tiếng trên thế giới, cũng hàng trăm thứ đồ dùng cá nhân được bày bán theo kiểu Mỹ.

Chúng tôi lại tiếp tục lên đường. Ngồi trên xe, lại bàn chuyện Lý Tống và những khó khăn mà anh đang gặp với qui chế nhà tù. Quỳnh Như vừa kể vừa rơi nước mắt: “Lần trước em vào thăm, mang theo nước sinh tố và một ít báo chí cho ảnh đọc, nhưng đám cai tù không cho, lại còn làm khó dễ. Anh Tống thì hay rầy rà em, không biết lần này có được vào gặp mặt hay không!”

Chúng tôi phân tích tâm lý của người tù: “Ở tù mà bị cùm xích, lại tuyệt thực, sức khỏe hao mòn, tinh thần bị căng thẳng đến tột độ như Lý Tống mà không phát điên là may rồi. Anh Ân mỗi lần vào thăm, là “sư phụ” của Lý Tống, còn bị càm ràm, hờn giận huống gì người khác. Thôi bỏ qua đi! Đã thương thì phải thương cho trót. Tình thương theo nghĩa rộng là một thứ tình thương của từ bi, tức là thương mà không có điều kiện — tình thương ấy cho đi mà không đòi hỏi được đáp lại. Còn tình thương theo nghĩa hẹp là tình thương có điều kiện, nghĩa là mình khi thương ai mà họ không đáp lại thì mình giận hờn, hoặc đôi khi trở thành thù cũng không chừng. Như vậy chúng ta nên chọn thứ tình thương nào đối với Lý Tống? Thôi hãy chọn thứ tình thương theo nghĩa từ bi để tâm hồn mình thanh thản hơn, dù rất khó thực hiện”.

Hơn một giờ sau mới đến tỉnh Rayong. Dĩ nhiên là thành phố này yên tĩnh hơn ở Bangkok, lưu thông thưa thớt, phần nhiều là xe gắn máy đủ loại di chuyển trên đường phố chính. Quang cảnh phố phường được kiến trúc như ở Cần Thơ hay Đà Nẵng ngày xưa. Chúng tôi được thẩy vào một khách sạn khá khang trang trong tỉnh với giá $10/đêm. Vứt vội hành lý vào phòng là trực chỉ nhà tù ngay.

Đường vào khu nhà tù chật hẹp, nhưng chỉ 10 phút sau là đã tới cổng tù. Chúng tôi xuống xe thả bộ vào khu thăm nuôi, nơi có hàng trăm người Thái địa phương đang đứng ngồi từng nhóm, từng khu để chờ được kêu tên vào thăm tù. Nhà tù được thiết trí kiên cố bằng những thanh sắt hàng rào chắn lớn, thanh nào cũng to bằng cổ tay. Hai bên là nơi làm việc của nhân viên nhà nước, họ mặc đồng phục kaki, đeo quân hàm trên cầu vai, lui tới lăng xăng lo sắp xếp giấy tờ và không màng để ý tới bất cứ ai đang chầu chực nhìn vào.

Rẽ qua bên phải là chúng tôi gặp ngay khoảng hơn chục người Việt — phái đoàn đến thăm Lý Tống từ Nam Cali — cũng đang đứng ngồi chờ đợi từ sáng sớm, gồm ba vị tu sĩ Phật Giáo, một Linh Mục Công Giáo, các vị khác thuộc các Ủy Ban TTLT và một số người trong giới truyền thông tại Cali cầm camera đang quay phim. Và đặc biệt có một số anh em còn trẻ đang hoạt động cho một vài tổ chức chống Cộng trên đất Thái.

Chúng tôi chào nhau, bắt tay từng người và bàn ngay chuyện làm thủ tục, trình passport để được vào thăm Lý Tống. Tôi biết ai cũng nôn nóng muốn vào thăm gặp Lý Tống một lần. Chúng tôi tiếp xúc ngay với người “chạy giấy” và một người Việt hiện đang cư ngụ tại địa phương làm thông ngôn. Ban đầu ban quản giám nhà tù cho biết họ chỉ cho phép 4 người vào thăm lần này. Dĩ nhiên họ phải họp tới họp lui để quyết định. Chúng tôi vì có quá nhiều người hiện diện, nên hơi lúng túng trong sự quyết định ai sẽ vào thăm và ai đứng chờ ở ngoài để nghe tin tức. Mọi người đồng ý để anh Ân, tôi, anh Hồ Thăng và một người bạn đại diện hội cựu quân nhân ghi vào danh sách. Thế nhưng hơn 2 giờ sau, người “chạy giấy” cho biết ban quản trị tù quyết định chỉ cho phép ba người vào thăm và chỉ gặp được 15 phút mà thôi. Bởi luật lệ khó khăn, nên tôi, anh Ân và anh Thăng được những người hiện diện đồng ý cho làm đại diện vào thăm Lý Tống.

Lại phải ngồi chờ dưới ánh nắng trưa hè oi ả, tôi nóng lòng, không biết mình sẽ nói được gì với Lý Tống trong 5 phút đồng hồ? Dĩ nhiên là tôi sẽ chuyển lời của chị Anh (chị ruột của LT) nhắn gửi. Thời gian 3 phút phù du còn lại, tôi sẽ nhắc nhở anh vài chuyện cần thiết.

Mười lăm phút sau, chúng tôi được viên sĩ quan cai tù hướng dẫn theo ông. Cánh cửa sắt được kéo ra, tôi bước vào thì đã thấy Lý Tống ngồi sẵn sau một hàng song sắt kiên cố. Lý Tống chào tôi trước: “Giờ mới thấy mặt”. Tôi không nói nên lời, tay nắm chặt tay, mắt liếc nhìn xuống đôi chân anh đang bị coòng, lòng tôi chùng xuống. Anh vẫn gầy ốm và xanh xao như tấm hình mà tôi đã đăng trên bìa báo TGM. Anh Ân và anh Thăng đều lên tiếng chào và bắt tay Lý Tống. Tôi nói: “Còn mấy chục người ở ngoài, có luôn ba vị thượng tọa và một Linh mục Công Giáo cũng xin vào thăm, nhưng ban quản trị tù không cho vào. Có luôn cả Lê Thành Quang cũng cần bàn với bạn nhiều chuyện, nhưng đành chịu”. Lý Tống càm ràm: “Đáng lẽ đồng bào từ Mỹ qua (đường xa) thì phải cho người ta vào chứ!” Lý Tống nói với chúng tôi: “Anh Hai muốn qua Thái, nhưng đòi phải có họp báo, phải đi với tính cách ngoại giao thì mới đi, ôi chà...”. Tôi ngắt ngay: “Mỗi người đều có mỗi lý do riêng khi làm việc, nên thông cảm anh Hai”.

Lý Tống quay qua anh Ân và nói về số giấy tờ cần thiết cho phiên tòa ngày mai. Hai người nói qua lại gần hơn 5 phút mà vẫn chưa hiểu loại giấy tờ gì? (vì mỗi lần trao đổi giấy tờ rất khó khăn và có thể bị thất lạc). Tôi bèn đổi đề tài, đưa cho LT một bao thư của vài người gửi vào và kể tên những thân nhân nhắn gửi lời thăm khi biết tôi qua Thái Lan.

Anh Thăng, nãy giờ loay hoay xếp mấy tờ báo ngoại quốc cho gọn, rút bớt phần linh tinh, chỉ chừa lại bản tin chính vì gửi vào nhiều quá sẽ bị tịch thu. Xếp xong, anh trao cho LT và trao luôn hai bì thư khác nhau. Bì thư thứ nhất là một số tiền mặt của vài anh em đóng góp muốn biếu tận tay Lý Tống; bì thư thứ hai là của ông Bùi Bỉnh Bân gửi tặng $500. Lý Tống nhận tiền, cám ơn, nhưng trao ngay lại cho anh Ân và dặn bỏ vào quỹ pháp lý do anh Trần Quốc Công làm thủ quỹ.

Lý Tống nhắc lại là anh đã nhận LS Puttri làm luật sư biện hộ cho anh với những điều kiện mà họ đã chấp thuận. Đồng thời anh cũng muốn kiện chính phủ Thái về việc giam giữ, hành hạ anh lâu ngày, vi phạm nhân quyền trong khi anh là một nghi can chưa có bản án.

Chỉ còn một phút phù du là hết giờ thăm viếng. Người sĩ quan trực đứng sau lưng nhìn vào đồng hồ như nhắc chúng tôi sắp hết giờ. Lý Tống nhắc tôi một vài việc cần làm. Tôi nhắc Lý Tống: “Lúc này là giai đoạn mà bạn phải dùng trí nhiều hơn là dùng cái dũng”. LT nói ngay: “Đang phải dùng trí để đấu đầu với một đám... người đây”. Tôi hiểu ý anh muốn nói gì?

Người cai tù nói tiếng Thái mời chúng tôi ra khỏi cổng sắt. Tôi lững thững bước ra ngoài, lòng nặng trĩu với những trạng thái buồn vui lẫn lộn. Có lẽ vui là đã gặp được bạn tận mặt sau nhiều tháng muộn phiền. Buồn là thấy anh xanh xao, bệnh hoạn nhiều thứ mang sẵn trong cơ thể, e rằng sẽ chịu đựng không nổi ở chốn lao tù khắc nghiệt.

Chúng tôi đến ngay bàn ăn của một quán nước trong khuôn viên trại tù, nơi các phái đoàn đang chờ tin tức. Tôi trình bày diễn tiến từ phút đầu đến phút cuối trước mọi người. Anh Ân bổ túc thêm những điều tôi quên. Anh Thăng cũng góp thêm ý kiến và một vài nhận xét về sức khỏe của Lý Tống. Tất cả các chi tiết đều được các anh em làm truyền thông quay phim.

Về phần tiền tặng riêng cho Lý Tống, anh Thăng trình bày:

“Lý Tống đã nhận số tiền mà anh em gửi tặng, anh rất cảm động và xin đa tạ tấm lòng của đồng bào. Thế nhưng vì luật trong tù không thể giữ được tiền, nên anh trao lại cho anh Ân mang để gửi về Trần Quốc Công (thủ quỹ, quỹ pháp lý) cất giữ.

Nghe lời anh Thăng kể lại, ông BBB đứng dậy đòi lại số tiền $500. với lý do: “Khi ra đi, nhà tôi đã dặn dò là phải trao tận tay cho anh Lý Tống giữ, bây giờ anh LT trao lại cho người khác thì tôi xin đòi lại để giữ lời hứa với nhà tôi”. Có lẽ ai cũng ngạc nhiên trước cách hành xử của ông B. Ngay tức khắc anh Lê Thành Quang nổi giận đứng phắt dậy:

“Xin lỗi ông Bân nhá, ông hành động như vậy là xúc phạm nhiều người lắm. Tôi sẽ đem chuyện này nói khắp thế giới cho người ta biết về cái bậy của ông”.

Anh Quang đỏ mặt gầm gừ. Tôi phân hơn thiệt: “Thưa ông, tiền bà nhà gửi tặng, chính anh Thăng đã trao tận tay cho anh Tống trước mặt chúng tôi, còn chuyện trao lại cho ai là tùy anh Tống. Tuy nhiên, ông muốn đòi lại thì phiền ông phải ký giấy nhận tiền để khỏi kẹt cho anh Ân”. Ông B đồng ý và ký giấy nhận lại tiền. Tôi quay qua anh Quang can gián: “Thôi anh bớt nóng, ông B có cái “kẹt” của Ổng, mình nên thông cảm”.

Không khí gặp gỡ buổi chiều hôm đó đáng lẽ phấn khởi, vui vẻ thì đâm ra ngột ngạt khó chịu. Anh Ân nãy giờ vẫn tỉnh bơ như chưa hề có chuyện gì xảy ra. Đúng là “hiệp sĩ mù nghe gió kiếm”. Ai nói gì thì nói, làm gì thì làm, chẳng cần phải tức, cũng chẳng cần phải lên tiếng.

Trên đường trở về khách sạn, tôi và anh Võ Khôi khen anh Ân là người trầm tĩnh. Cô Quỳnh Như khi nghe anh Quang kể lại chuyện ông B, cô đùng đùng nổi giận. Tôi khuyên Quỳnh Như đừng nên nặng lời, bởi mỗi người đều có cách xử thế khác nhau. Ông B chắc phải có lý do “riêng” của ông. Chúng ta nên tội nghiệp cho ông hơn là trách móc.

Về tới khách sạn, tôi định lên phòng ngay để tắm một phát cho đã vì cả ngày phơi nắng, mồ hôi ướt như gặp mưa, nhưng lại gặp ngay một sư cụ tiến lại hỏi tôi bằng tiếng Việt về chuyện anh Lý Tống. Tôi ngạc nhiên hỏi lại:

— Bạch sư... sư là người Thái biết tiếng Việt?

— Sư là người Việt, nhưng đã qua đây tu hơn 50 chục năm rồi.

— Sư đến với chúng con về vụ anh Lý Tống?

— Mô Phật, đúng như vậy.

— Bạch sư, xin cho con biết pháp danh?

— Sư là Thiện Phước.

— Con từ Texas qua đây để tham dự phiên tòa xử anh Lý Tống vào ngày mai. Sư từ Bangkok xuống đây để tìm gặp chúng con?

— Vâng.

Lòng tôi như mở cờ, tôi mời tất cả các anh em đến ngay salon khách sạn để bàn chuyện. Đúng là cơ duyên đã tới. Cả 5 năm người chúng tôi: Anh Khôi, anh Tài, anh Ân, anh Quang và tôi đều giành nhau hỏi về giáo hội Phật Giáo Thái Lan có can thiệp hoặc lên tiếng giúp cho anh Tống qua khỏi tai nạn này được không?

Sư chậm rải: “Giáo hội Phật Giáo và ngay cả Vua Sãi cũng ít khi can dự vào việc chính trị, mà chỉ lo tu hành và sinh hoạt trong phạm vi tôn giáo. Tuy nhiên, đây là trường hợp đặc biệt, để sư đi vận động với các vị sư Thái có gốc Việt tại đây xem có thể làm gì giúp được anh Lý Tống”.

Sư Thiện Phước khoảng ngoài 70, vẫn còn nói và hiểu rõ tiếng Việt. Chúng tôi thăm hỏi tình hình của các vị sư gốc Việt khác tại thủ đô Bangkok và các tỉnh lân cận. Đồng thời chúng tôi cũng nhờ sư vận động làm sao để có thể có được một số sư — sư Thái Lan càng tốt — tham dự vào phiên tòa ngày mai. Sư đồng ý đi vận động, nhưng gấp quá, chỉ còn qua đêm làm sao có thể gặp được nhiều sư. Tôi đề nghị: “Như vậy, sư có thể giúp chúng con bắt tay vào việc liền”. Tôi trao cho sư một ít tiền Baht để thuê xe về Bangkok vận động thêm các vị sư khác tham dự phiên tòa ngày mai.

Tiễn nhà sư ra khỏi khách sạn, chúng tôi ai nấy vui mừng như gặp được cơ duyên hiếm hoi. Vậy phiên tòa ngay mai sẽ đông người hơn, có linh mục, có 3 thầy (Bắc tông) từ California qua; nay có thêm sư (Nam tông) tại Thái Lan tham dự, chắc chắn trước vành móng ngựa Lý Tống sẽ lên tinh thần hơn; anh em người Việt hải ngoại khắp nơi về tham dự cũng sẽ cảm thấy ấm cúng bội phần khi có sự hiện diện của nhiều vị lãnh đạo tinh thần tham dự.

PHIÊN TÒA

Buổi sáng, chúng tôi thức dậy sớm sửa soạn chu đáo để ra tòa. Khí hậu nóng bức, nhưng chúng tôi ai cũng trịnh trọng mặc đồ veston, thắt cà vạt. Phái đoàn lại có thêm 3 người bạn Thái Lan, gồm anh Bigman, cô So-nmai và cô Chíp từ Bangkok xuống tham dự. Vừa ăn sáng xong tại khách sạn, chúng tôi gặp ngay sư Thiện Phước, có thêm là sư Somphona, người Thái gốc Việt. Phái đoàn chúng tôi chụp gấp vài tấm hình rồi lên xe trực chỉ tòa án.

Chúng tôi đưa hai vị sư vào phòng xử. Hai vị được mời vào hàng ghế bên trái cùng với Thượng Tọa Thích Thiện Hương (Cali), tôi ngồi cùng dãy ghế gần công tố viện để dễ ghi chép vì tòa không có hệ thống âm thanh khuếch đại.

Tôi vừa ghi chép cuộc đấu lý giữa Lý Tống và ông tòa, vừa suy nghĩ làm sao có thể chụp được vài tấm hình phiên tòa để bà con hải ngoại nhìn thấy tận mắt Lý Tống qua ống kính. Mặc dù đã có sửa soạn trước bằng cách đem máy chụp hình nhỏ bỏ vào túi áo veston và một máy Nikon có telé sẵn sàng trên bàn chỉ cần bấm là xong. Nếu bấm với ánh sáng (thường) trong phòng tòa, máy hình sẽ kêu xì xạch, nếu xài flash thì “lạy ông tôi ở bụi này”. Như vậy nhân viên công lực Thái Lan, đứng khắp nơi, sẽ tịch thu ngay máy hình.

Trong phòng có hai máy quạt, trời nóng bức nên cả hai quạt phải làm việc mà vẫn chịu không nổi sức nóng. Ông tòa thấy nóng, bèn cho phép mọi người có thể cởi áo vest. Trên trần, tiếng quạt lâu lâu kêu rè rè vài ba tiếng rồi ngưng. Tôi để ý, cái quạt này có chu kỳ kêu rè rè rồi ngưng. Như vậy, lợi dụng tiếng quạt kêu, tôi có thể thò tay vào máy hình, mở bao cho lòi ống kính ra ngoài, điều chỉnh máy ở vị trí wide-angle, mở tối đa và bấm đại thì họa may có thể được. Tôi để sẵn và chờ cơ hội.

Cơ hội đã đến, tiếng quạt vừa kêu, người cảnh sát trước mặt tôi cũng vừa xoay lưng. Alê-hốp, tôi bấm mấy phát liền. Không ai nghe gì cả. Như vậy là được, nhưng không biết hình ông tòa, Lý Tống có nằm trong ống kính hay không? Hay có thể chỉ bấm bức tường cũng không chừng!

Tôi lại tiếp tục ghi chép. Lần này tôi chuẩn bị máy hình kỹ hơn. Cái máy nhỏ trong túi áo cũng sẽ sử dụng nếu có cơ hội. Gần hết phiên tòa, tiếng ồn ào bắt đầu, tiếng ghế di chuyển, anh Ân và anh Tài đứng phía sau che giùm hai ông cảnh sát cho tôi. Cơ hội đã đến, tôi lôi ngay máy lớn ra bấm lia lịa, ngay dưới bàn, dĩ nhiên là không cần nhắm. Trong khi đó, cảnh sát đi tịch thu nhiều máy hình mà họ khám phá ra có đèn flash. Tôi thấy họ tịch thu 5,6 máy hình, trong đó có máy hình của anh Quang và cô Quỳnh Như.

Tôi yên chí, như thế là tôi chụp được khoảng 20 tấm, cả máy nhỏ, lẫn máy lớn. Nếu cảnh sát lấy một máy thì tôi vẫn còn một máy. Chỉ sợ là vị trí tấm hình không biết xiên xẹo như thế nào, nhưng chắc là được. Ánh sáng thuận chiều, không được cái này thì cái khác. Khi về tới Mỹ sẽ dùng photoshop sửa lại cho cân bằng.

Hú hồn, ông cảnh sát đòi tịch thu máy hình lớn của tôi. Tôi nói: “Tôi có chụp gì đâu!”. Tôi làm liều đưa xách máy hình cho ông ta. Không biết nghĩ sao, ông đưa lại tôi. Hú hồn, đôi khi làm liều mà được việc! Thì ra, ai bấm máy có flash là bị bắt ngay. Còn tôi, bấm lén hơn 20 chục lần bằng ánh sáng thiên nhiên nên không bị lộ.

Trở lại phiên xử và vụ “tranh cãi” giữa Lý Tống và ông tòa. Phiên tòa hơi dị thường, Chánh án Pratakchai là chánh án mới, không phải ông Chánh án hôm 24-4-2001. Sao tòa lại thay chánh án? Như vậy làm sao theo được vụ án mà buộc tội? Tại sao ông tòa lại để cho Lý Tống phát biểu — có vẻ như buộc tội chính phủ Thái vậy? Nghĩa là ông tòa quá dễ dãi đối với Lý Tống. Anh Ân cho rằng ông tòa đã quên không mang theo cái búa (chánh án) để stop Lý Tống biện minh lia lịa trước phiên tòa. Đặc biệt, LS Puttri, đáng lẽ là người cãi thay cho Lý Tống, thì lại biến thành người thông ngôn.

Theo ông Paul Mayer (tòa Đại Sứ Mỹ) khi gặp trước tòa cho biết: “Luật lệ của chính phủ Thái rất gắt gao, nhưng họ đã đối xử dễ dàng như vậy là họ đã cố ý nhượng bộ nhiều lắm rồi. Thứ nhất họ thấy người Việt hải ngoại đến ủng hộ tinh thần khá đông nên nể; thứ hai, vì không triệu được nhân chứng. Hai người chứng quan trọng trong vụ án này là ông Trung úy cảnh sát và ông huấn luyện viên (IP). Ông cảnh sát thì mắc tham dự đại hội, còn ông IP thì hiện ở Mỹ đang tham dự huấn nghệ”.

Như vậy là tòa có lý do chính đáng để dời phiên xử vào một ngày khác. Luật của Thái Lan, nhân chứng có thể viện lý do chính đáng cho việc vắng mặt trước tòa mà không bị phạt.

Theo LS Puttri mà tôi đã gặp liên tiếp hai lần — lần ngay tại tòa và lần nữa vào ngày hôm sau tại văn phòng ông ở Bangkok — thì ông Chánh Án đã nhượng bộ quá nhiều, nhưng nếu Lý Tống cứ tiếp tục nói nhiều trước phiên tòa tới thì sẽ bị mất cảm tình và tất nhiên đưa đến sự thất lợi.

Ông khuyên tôi, là người thân của Lý Tống, nên khuyên LT hãy bình tĩnh để ông thay mặt biện hộ trong phiên xử sắp tới thì hay hơn.

Tôi nhận lời và cám ơn ông đã cho biết ý kiến. Nhưng phân trần: “Có lẽ vì lâu ngày bị giam giữ và xiềng xích chân, lại không có cơ hội để trình bày trước tòa về nỗi uất ức của anh — một chiến sĩ đấu tranh cho tự do — không được một quốc gia tự do như Thái Lan ủng hộ anh, mà còn bị tù đày, làm sao không nói được”. Ông Puttri thông cảm về nỗi uất ức của Lý Tống, nhưng luật là luật, sự bất cần của Lý Tống trước tòa, không ít thì nhiều, sẽ mang lại những hậu quả không lợi cho phiên tòa tới.

Sau phiên tòa, tôi hỏi ngay ý kiến của sư Thiện Phước. Sư cho biết, sư đã nghe hết từ đầu bằng tiếng Thái, như vậy là họ đã nhượng bộ quá nhiều. Riêng anh Lý Tống, nên bình tĩnh và ít nói, sẽ có lợi hơn. Mặc dù sư cũng biết anh Tống vì uất ức dồn dập nhiều tháng nên khi được nói là nói tất cả.

Ngày hôm sau, chúng tôi gặp lại sư Thiện Phước và đã đề nghị sư giúp đỡ bằng cách đi thăm Lý Tống mỗi tuần và có thể khuyên nhủ anh vài lời. Sư nhận lời và đã tháp tùng phái đoàn vào thăm Lý Tống. Khi gặp gỡ, sư đã tâm tình với anh Tống, khuyên anh nên nhẹ nhàng trước những phiên tòa tới để chính phủ Thái có cảm tình hơn. Anh đã im lặng và đồng ý từ nay đã có LS Puttri biện hộ, tất nhiên anh sẽ không cần tự biện hộ cho mình như hai phiên xử vừa qua.

Ngày cuối tại Bangkok, khi phái đoàn chúng tôi trở lại tỉnh Rayong, cùng với sư Thiện Phước để thăm Lý Tống, riêng tôi, dành thì giờ còn lại nhờ anh Bigman làm tài xế chở đi gặp LS Puttri như đã hẹn. Gặp xong ông Puttri, chúng tôi có đi vào đại học Phật Giáo Bangkok để tìm kiếm những vị sư có thể giúp đỡ Lý Tống, nhưng rất tiếc không có hẹn trước nên đã không gặp được các vị cao tăng Thái Lan.

VỀ MỸ

Cách đây hơn 800 năm, danh tướng Lý Thường Kiệt đã mang quân chinh phạt Thái Lan, ngày nay Lý Tống lại bị cùm xích trước tòa Thái Lan. Theo Phật giáo, đây có phải là nhân quả, hay là nghiệp? Ngày xưa Lý Thường Kiệt oai dũng bao nhiêu thì ngày nay Lý Tống, dù bị cùm xích, đứng trước tòa, anh vẫn có ái uy của một anh hùng khi sa cơ thất thế.

Theo sự nhận xét của một vài anh em tham dự phiên tòa, quả thật chính phủ Thái Lan đang đắn đo vì những khó khăn trong vấn đề ngoại giao với CSVN; mặt khác cũng khó xử với Hoa Kỳ vì Lý Tống là công dân Mỹ. Phải chăng đó là lý do mà họ tìm cách kéo dài?

Chúng tôi cũng không dám tiên đoán, tòa sẽ kéo dài phiên xử vài lần nữa, rồi viện cớ không có nhân chứng, hoặc không đủ nhân chứng, và sẽ phạt nhẹ Lý Tống rồi trục xuất. Hoặc ngược lại, họ sẽ kéo dài thời gian năm bảy phiên xử? Tuy nhiên, càng kéo dài thì Lý Tống của chúng ta có chịu đựng nổi hay không? Điều quan trọng để cứu Lý Tống ra khỏi tù càng sớm càng tốt, là phải vận động khắp nơi, mỗi người một tay, cố gắng tham dự những phiên tòa kế tiếp thật đông, dù phải tốn kém thì giờ và tiền của. Mặt khác, anh Võ Văn Ân hiện đang có mặt tại Thái Lan, vẫn ra vào nhà tù thăm nuôi Lý Tống, vẫn làm công việc thông tin trong ngoài như thường lệ. Anh đã khuyên Lý Tống nên bình tĩnh và thay đổi chiến thuật bằng cách nhẹ nhàng hơn, nhún một tí là sẽ có kết quả tốt.

Sáng sớm thứ Sáu, chúng tôi ra phi trường để về lại Mỹ, anh Ân cũng theo, nửa muốn ở lại vì Lý Tống yêu cầu, nửa muốn về vì không đủ tiền chi phí cho những ngày ở lại. Tôi đề nghị anh nên ở lại, vì mỗi lần đi mỗi lần khó, nhất là phải ngồi hơn hai ngày đi về trên máy bay, ê ẩm cả người, lớn tuổi lại càng khổ hơn!

Cuối cùng, anh Ân phải ở lại. Chúng tôi lên máy bay, anh vẫy tay từ biệt. Anh Quang và anh Tài quay lại nhìn, lòng tôi xốn xang thương anh Ân, thương Lý Tống với đôi chân bị coòng; nhớ những người bạn Thái Lan, dù khác giống, nhưng trái tim từ ái rộng mở không khác chúng ta tí nào.

Quả đất vẫn quay, thành phố Bangkok cũng xoay theo những cuồng loạn của nhịp sống đô thị; người đi vẫn phải đi; người du lịch trên xứ đền đài lạ mắt vẫn đến và đi; người dân Thái vẫn sống với cuộc sống bình thường; và người tù bất đắc dĩ Lý Tống vẫn bị cùm xích ở Rayong đang chờ trả lại công lý Tự Do cho anh.

Đại cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ tại quê nhà vẫn diễn ra ngày một mạnh mẽ hơn. Chùa chiền, Thánh đường đã và đang bị cô lập, tình hình đất nước đã đến hồi căng thẳng tột độ. Đảng CSVN vẫn cứng đầu bám lấy quyền lực để gây thêm tai họa cho đất nước và dân tộc.

Tôi nghĩ rằng, vì danh dự chung của tập thể người Việt quốc gia hải ngoại; do đó đấu tranh cho Lý Tống sớm ra khỏi tù là điều tiên quyết mà chúng ta phải làm. Bởi anh là ngọn lửa tự do đang bùng cháy, chúng ta có bổn phận phải nuôi dưỡng ngọn lửa ấy.

Trương Sĩ Lương, 30/5/2001

 (Bài cũ dã đăng

6 comments (Add your own)

1 Francof - Sat, June 1, 2019 @ 7:43 PM

Amoxicillin buy sertraline online Baclofene Lioresal
2 Francof - Sat, June 8, 2019 @ 4:52 PM

Propecia Medicamento Keflex Shelf Life [url=http://buycial.com]canadian cialis[/url] Sildenafil 25 Mg Generika Viagra Erfahrungen
3 Francof - Sun, June 16, 2019 @ 5:25 PM

Cephalexin 500mg For Toothache Malegra Fxt Overnight Shipping [url=http://curerxshop.com]cialis prices[/url] Virgara Sales
4 Francof - Mon, June 24, 2019 @ 12:46 PM

Onlinefarmacy Viagra Alcool Mort [url=http://antabusefast.com]antabuse without prescription[/url] Cuanto Cuesta La Viagra En La Farmacia
5 Francof - Wed, July 3, 2019 @ 1:43 PM

Achat Viagra Fr [url=http://levicost.com]levitra withouth prescription[/url] Nolvadex Comparatif Viagra Generique
6 충주출장마사지 I always spent my half an hour to read this blog's articles everyday along with a cup o - Tue, October 20, 2020 @ 11:05 AM

충주출장마사지
I always spent my half an hour to read this blog's articles
everyday along with a cup of coffee.영천출장마사지 , https://changwonoffice.club.

Add a New Comment


code
 

Comment Guidelines: No HTML is allowed. Off-topic or inappropriate comments will be edited or deleted.